Văn Hóa Á Châu Và Những Thành Kiến Về Bệnh Tâm Thần – Lê Ánh

Văn Hóa Á Châu Và Những Thành Kiến Về Bệnh Tâm Thần – Lê Ánh

PHẦN 1

I-                  VĂN HOÁ VÀ BỆNH TÂM THẦN

Thuở xưa người ta tin rằng con người có thể làm chủ hoàn toàn hành động và suy nghĩ của mình bằng ý chí (will). Người “quân tử” là người tốt có thể khuất phục được những tình cảm “nhỏ mọn” như ganh tị, giận dữ, hay tham lam. Kẻ “tiểu nhân” là người theo những đòi hỏi hèn hạ của bản năng không làm chủ được chính mình. Nhà triết gia Pháp Descarte (1596-1650) đã từng nói: Je pense donc je suis (tôi suy nghĩ tức là tôi hiện diện). Triết lý của ông ta là suy luận có thể dẫn đến chân lý. Cái quan niệm khoa học thời đó là con người hoàn toàn làm chủ được suy nghĩ và hành động của mình qua khả năng suy luận và qua ý chí.

Quan niệm này tồn tại một thời gian đến khi nhà phân tâm học Freud (1856- 1939) phát hiện ra con người có tiềm thức (id, unconscious). Con người không phải lúc nào cũng làm chủ được những dục vọng của mình. Đôi khi họ còn tìm cách tự lừa dối mình để thỏa mãn những dục vọng của mình. Thí dụ như đổ thừa cho người khác dụ dỗ mình hay lừa gạt mình (projection). Họ còn dùng lý trí để biện hộ cho dục vọng của mình (rationalization). Đa số không ý thức được những phản ứng tâm lý đó mà phải qua nhiều kỳ (session) phân tích tâm lý mới nhận ra. Nói tóm lại tình cảm núp bóng dưới lý trí điều khiển cuộc đời con người mà ít người nhận ra được. Cũng vì thế mà tánh tình rất khó thay đổi bằng lý trí. Ta hiểu được mà không thực hành được. Nếu điều ngược lại là sự thật (lý trí lèo lái tình cảm) thì trên thế giới này sẽ ít có chiến tranh. Hiện nay điều duy nhứt ngăn cản thế chiến không phải là lý trí mà chính là sự lo sợ chết chóc hàng loạt do vũ khí nguyên tử gây ra.

II-              BỆNH TÂM THẦN TRONG VĂN HOÁ Á ĐÔNG

Bệnh tâm thần là những căn bệnh mà bệnh nhân có những suy nghĩ hay hành động bất bình thường. Gia đình Á Châu thường rất hổ thẹn với những hành động này. Gia đình thường la rầy bệnh nhân vì hiểu lầm là bệnh nhân không chịu dùng ý chí để thay đổi những hành động bất bình thường. Mặt khác phụ huynh rất hổ thẹn (shame) vì nghĩ rằng họ không dạy dỗ con cái đúng mức mới ra nông nỗi này. Một số khác lại cho rằng bệnh tâm thần là một tai họa do gia đình ăn ở không phước đức, người con mới bị như vậy. Gia đình thường giấu người bệnh tâm thần trong nhà vì sợ “làng xóm chê cười”. Thông thường họ chỉ đem bệnh nhân đi khám bác sĩ khi bệnh nhân có những hành động đập phá nhà cửa.

Bệnh tâm thần trở thành một điều kỵ (stigma) trong xã hội. Xã hội có thành kiến với những người bị bệnh tâm thần vì nhóm người này không có những hành động và suy nghĩ bình thường mà xã hội mong đợi. Thông thường những gì khác lạ thường bị xã hội không chấp nhận vì nó hay mang tính chất nguy hiểm. Bệnh nhân còn làm rối loạn cái trật tự mà văn hóa đặt ra. Những triệu chứng bệnh tâm thần rất khó được kềm chế khi bệnh không được trị liệu. Thí dụ như người bệnh tâm thần hỗn xược với gia đình, không chịu tắm rửa, không gìn giữ ý tứ khi đi ra ngoài đường. Điều này gây rất nhiều khó khăn vì văn hóa Đông Phương đề cao việc cá nhân phải là một thành viên tốt của gia đình và xã hội. Khi thành viên không làm được phận sự của mình thì những người có bổn phận đầu tiên giáo dục thành viên đó (tức là gia đình) bị khiển trách.

III-           NHỮNG HIỂU BIẾT MỚI VỀ BỆNH TÂM THẦN

Khoảng thập niên 1980 trở lại gần đây, với sự phát triển của ngành quang tuyến neuroimaging, dùng những kỹ thuật hiện đại như fMRI, PET scan để quan sát những hoạt động của não bộ, các khoa học gia mới hiểu nhiều hơn về cơ chế hoạt động của tâm lý và triệu chứng của những bệnh tâm thần. Nói chung, hầu hết những bệnh tâm thần có cơ sở sinh lý liên quan đến sự mất cân bằng của những hóa chất trong não bộ (neurotransmitter).

Ngày nay khoa học hiểu rằng Serotonin bị mất quân bình gây ra bệnh trầm cảm (depression), Dopamine hoạt động quá độ ở bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia), Acetylcholine không hoạt động đúng mức ở bệnh lú lẫn Alzheimer. Khi ta dùng thuốc điều hòa những hóa chất trên thì triệu chứng bệnh tâm thần thuyên giảm. Điều trị rồi chụp hình trở lại thì ta thấy có sự biến đổi ở hình chụp. Rất tiếc là những kỹ thuật chụp hình kể trên còn rất mới và cần được điều chỉnh thêm nên chưa được áp dụng một cách rộng rãi trong việc chẩn đoán và trị bệnh.

Điều quan trọng nữa là chúng ta thường có những quan niệm sai lầm về “tánh tình” của người bệnh tâm thần. Thí dụ như ở bệnh trầm cảm, người bệnh được cho là có “tánh tình lười biếng, không năng động”. Ít người hiểu rằng bệnh nhân hết sức cố gắng nhưng không thể nào vượt qua được cảm giác chán chường nặng nề do bệnh gây ra. Nhưng khi uống thuốc và bệnh thuyên giảm rồi, mặc dù vẫn còn uể oải trong người nhưng họ có khả năng vượt qua khỏi sự thụ động và bắt đầu tham gia vào sinh hoạt gia đình và xã hội. Như thế cũng oan cho bệnh nhân nếu ta gán cho họ những “tánh xấu” mà thật sự đó là những triệu chứng của bệnh. Những triệu chứng này sẽ biến đổi một cách tốt đẹp khi trị liệu đúng mức.

Khác với sự lo lắng của nhiều người, thuốc tâm thần không có khả năng biến đổi tánh tình bệnh nhân trở thành một người khác lạ. Những loại thuốc này chỉ có khả năng làm giảm triệu chứng bệnh giúp bệnh nhân thoát khỏi cơn bệnh. Khi hết bệnh, họ sẽ được tự do chọn lựa hướng đi cho cuộc sống mình. Tâm lý trị liệu kèm với trị liệu bằng thuốc men giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn. Tâm lý trị liệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp đỡ bệnh nhân bỏ những thói quen xấu do cơn bệnh gây ra và giúp họ chọn những quyết định đúng đắn cho cuộc sống mình. Tôn giáo cũng đóng một vai trò quan trọng giúp bệnh nhân phát triển đời sống tâm linh để tìm hạnh phúc trong cuộc sống.

o0o

 Tóm lại, lúc mà khoa học chưa phát triển hoặc những phương tiện truyền thông chưa có, văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức và cách cư xử đúng đắn (phong tục). Vai trò của văn hóa là giữ trật tự trong gia đình và xã hội. Những kiến thức văn hóa giúp phụ huynh ở các thế hệ trước dạy dỗ con cái. Vào cuối thế kỷ 20 và thế kỷ 21, hệ thống truyền thông qua internet và qua vệ tinh phát triển vượt bực. Kiến thức thay đổi rất nhanh, kèm theo đó những sản phẩm khoa học của xã hội thay đổi một cách chóng mặt. Sự đổi mới này như một cuồng phong làm những phong tục và những gì thế hệ trước tin tưởng biến đổi một cách nhanh chóng. Những quan niệm về tính tình và tâm lý cũng theo đó mà thay đổi.

Sự hiểu biết chín chắn về bệnh tâm thần là một điều cần thiết trong xã hôi tân thời. Bệnh tâm thần không khác gì bệnh thể xác, có nền tảng sinh lý là sự mất quân bình của các hóa chất tiết ra ở não bộ. Sự khác biệt là bệnh tâm thần ảnh hưởng cách suy nghĩ và hành động của bệnh nhân nên đã tạo nhiều hiểu lầm. Khi bệnh này xảy ra cho những người ở trong một xã hội đề cao trật tự và phận sự thì bệnh nhân sẽ mắc phải nhiều thành kiến của gia đình và xã hội. Những thành kiến này ngăn cản căn bệnh được trị liệu đúng mức. Hơn bao giờ hết sự giáo dục quần chúng về sức khỏe tâm thần rất quan trọng vì đa số bệnh tâm thần đều có thể trị được bằng thuốc men và tâm lý trị liệu. Khi bệnh tâm thần không được điều trị, nó chẳng những gây căng thẳng cho bệnh nhân mà còn cả cho những người sống chung quanh bệnh nhân nữa.

                                       &

Hiện nay có 2 hệ thống phân loại cho sự phân chia bệnh rối loạn tâm thần:

1-                Chapter V of the International Classification of Diseases (ICD-10) do Tổ chức Y tế

Thế giới (World Health Organization -WHO) đề xướng;

2-                The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-5) do Hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association-APA) phổ biến.

Những bệnh tâm thần thường gặp trong các bệnh rối loạn tâm thần trình bày sau đây thuộc trong nhóm DSM-5.

HỎI và ĐÁP

H-Khi qua đến Mỹ, tôi thường nghe nhiều người nói đến Stress.  Stress nghĩa là gì?

Đ- Stress là nói về tình trạng căng thẳng tâm thần, tức trạng thái sợ hãi, căng thẳng quá mức, thường gây trở ngại cho công việc và giấc ngủ.

Cảm thấy căng thẳng là điều bình thường của mọi người chúng ta trước một tình thế căng thẳng (stressful situation). Đang lái xe, chợt thấy ông cảnh sát lái mô-tô nhấp nháy đèn ngay đằng sau lưng, ít ai trong chúng ta có thể phớt tỉnh ăng-lê, lòng chẳng chút âu lo. Trạng thái âu lo, căng thẳng này là “anxiety”. Anxiety có nhiều mức độ. Nặng hơn, anxiety có những phản xạ thể xác đi kèm. Như có người vừa bị tai nạn, cảm thấy sợ hãi (căng thẳng tinh thần), mặt tái mét, tim đập như trống làng, chân tay run rẩy, người bủn rủn đứng không vững, đầu thấy nặng và choáng váng, đồng thời cảm thấy buồn nôn (phản xạ thể xác).

Đúng ra, để hoàn tất mọi công việc một cách tốt đẹp, chúng ta đều cần đến một chút anxiety, một chút sợ hãi. Chút ít anxiety rất tốt cho cuộc sống hằng ngày. Lái xe, sợ gây tai nạn, sợ bị phú-lít treo bằng, ta để ý đèn xanh, đèn đỏ và chạy cho đúng luật. Một người bừa phứa, không biết sợ là gì, coi trời cũng bằng vung, dễ gây hại cho mình và cả cho người.

Tuy vậy, quá nhiều anxiety lại chẳng tốt. Nhiều người sắp đi thi, lo đến mất ăn mất ngủ và lâm bệnh, hoặc vì tinh thần quá căng thẳng, nên có những phản xạ quá đáng của thể xác, như lúc nào cũng thấy tim đập mạnh, tay chân run như cầy sấy, đi tiểu đi cầu liên miên, rồi đến ngày thi, lại cáo ốm không đi. Nhiều vị, vì quá căng thẳng khi lái xe trên xa lộ, cuối cùng đành bỏ, không dám lái xe nữa, phải phụ thuộc vào người khác khi đi đây đi đó. Anxiety vừa phải là bình thường, anxiety quá đáng là bệnh, là có rối loạn (anxiety disorder).

Bệnh tâm thần anxiety không phải hiếm. Cứ 100 người chúng ta, có đến 5-8 người bị bệnh anxiety và 1 người bị nặng đến độ chẳng thể làm việc. Phụ nữ bị bệnh nhiều gấp đôi đàn ông.

Nguyên nhân của stress thì nhiều vô kể, bao gồm như việc trả tiền nợ mua nhà hàng tháng, trả chi phiếu tiền điện, nước, . . ., đổ vỡ hôn nhân, con cái hư hỏng, thi cử, thất nghiệp, công việc khó khăn, sự tranh chấp chủ thợ, sự mất người thân, . . . đều gây stress.  Hầu như ai ai cũng trải qua ít nhiều stress trong đời sống.  Người sống trong một xã hội văn minh, giàu có thì có những stress của riêng họ.  Người dân trong những nước nghèo đói, liên miên có chiến tranh thì lại có một loại stress riêng.

Có một điều là khi nghèo quá, khổ quá thì con người mất nhạy cảm đối với cuộc sống, trở nên chai lì và coi như không còn biết stress là gì nữa.

 H: Tại sao lại bị động kinh?  Em tôi nói tháng trước tôi lên cơn động kinh, té nằm ngoài đường phố. Nhưng tại sao tôi không biết?

Đ: Có nhiều trẻ em bị chứng động kinh (epileysy) ngay sau khi sinh do thương tích não khi sinh đẻ hoặc do sốt cao vì nhiễm trùng.  Một số em bị động kinh do bị lắc mạnh hay giằng co khiến não bị giao động.  Một số người khác bị chứng động kinh sau khi bị viêm não, bướu não hoặc chấn thương não.  Bệnh diễn tiến khác nhau tuỳ theo trường hợp, có người chỉ bị nhẹ, mất sự nhận thức trong vòng vài giây, có người không kiểm soát được một vài cử động khác thường của tay chân, có người lên cơn kinh giật dữ dội, nghiến răng, sùi bọt mép, tiểu ra quần mà không biết.  Bệnh nhân hoàn toàn không biết những gì xảy ra khi lên cơn.  Có thể họ cảm thấy một dấu hiệu báo trước, rồi bất tỉnh.  Sau cơn giật một lúc, bệnh nhân tỉnh dậy, không hay biết gì về sự việc đã bất tỉnh và lên cơn kinh giật.

 Bệnh nhân sẽ được khám xét tổng quát, làm điện não đồ (electroencephalogram) hay viết tắt là EEG để đo làn sóng não, tìm nơi tổn thương và cũng hy vọng tìm ra nguyên nhân.  Tiếp theo là cho thử máu và làm CT scan não bộ (computerized tomography) để có thể chẩn đoán bệnh.

Bệnh động kinh có thể xảy ra cho bất cứ một người nào, không phân biệt tuổi tác, giới tính, chủng tộc, địa vị trong xã hội.  Các nhân vật như Alexander Đại Đế, Julius Cesar, Van Gogh, Alfred Nobel, bị bệnh kinh phong nhưng đã trở thành những nhân vật xuất chúng. Bệnh xuất hiện ở lúc còn trẻ, thường bớt dần với thời gian khi tuổi cao.


H- Tôi có ông bạn gia đình bị đổ vỡ.  Ông bạn không thiết ăn uống gì cả, ngủ cũng không được và ngày càng ốm gầy hẳn đi, trông xanh xao và không muốn tiếp xúc với một ai cả.  Như vậy có phải ông bạn tôi bị stress không?

Đ-  Stress và lo âu đã làm cho con người ăn không biết ngon miệng, ngủ không yên và cơ thể sẽ gầy yếu đi.  Tinh thần mất sản khoái.  Nếu đem vấn đề riêng tư ra tâm sự với bạn bè thân thiết, bàn với bác sĩ gia đình, may ra sẽ giải tỏa được nổi u hoài, sự buồn chán lo âu.  Phải có bản lĩnh để tự trấn tĩnh, ăn uống bình thường để duy trì sức khỏe.  Thời gian sẽ là yếu tố chính làm nguôi dần sự buồn phiền.  Phải tự cứu mình và nghĩ rằng trên đời này không có gì là bất biến.  Cứ nghĩ rằng nếu không có sự đồng tình và đồng cảm, bao dung, tha thứ giữa hai người và tình yêu thương không còn thì sự chia ly là một giải thoát cho cả hai, để được thoải mái, hơn là cứ phải ôm lấy sự bực mình, ray rứt, cãi cọ hết ngày này đến năm tháng khác.   Hãy hướng về tương lai để vui sống và làm một việc gì để giúp người, giúp đời để cuộc sống có ý nghĩa.

H: Làm sao biết được các triệu chứng của stress?

Đ: Hình như ai cũng không ít thì nhiều stress trong cuộc sống, nhưng mỗi người đối phó với stress một cách khác nhau.  Stress sẽ đưa đến nhiều vấn đề liên quan đến tình trạng yếu đau thể chất và tâm thần như đau đầu kinh niên, loét bao tử, chứng trầm cảm, bệnh tim, bệnh đau nửa đầu (migraine), tiêu chảy, hơi thở dồn dập, ra mồ hôi nhiều, ngứa đỏ, ói mửa và nhiều triệu chứng khác nữa.  Các triệu chứng chỉ là kết quả phát ra ngoài do sự rối loạn nội tâm.   Khi nghe kể bệnh mà nói là các triệu chứng ấy là do stress gây ra thì cũng chỉ là một nghi vấn mơ hồ, cần phải có một sự thăm khám tỉ mỉ, trắc nghiệm để loại trừ các bệnh khác sẵn có, rồi mới có thể kết luận được.

H: Có cách nào để chữa trị chứng stress?
Đ: Có bốn cách:

·                    Cách thứ nhất, rõ ràng nhất, hay nhất, nhưng cũng khó nhất là loại bỏ nguyên nhân gây stress;

·                    Cách thứ hai và thực tế để đối phó với stress là công khai hóa nó, bằng cách đem vấn đề ra bàn với người phối ngẫu, bà con họ hàng, bạn bè thân thiết, bạn cùng sở, hoặc những người thích nghe mình nói, tỏ bày tâm sự để vơi bớt nổi lòng.  Có những điều tưởng không thể vượt qua, có thể giải quyết được khi đưa ra công khai;

·                    Cách thứ ba là viết ra giấy chi tiết các vấn đề nan giải, cũng là cách để bớt lo âu, căng thẳng và có thể tìm ra cách giải quyết;

·                    Cách thứ tư là tìm sự giúp đỡ của những người chuyên môn như bác sĩ gia đình, bác sĩ chuyên khoa tâm thần, tâm lý gia, nhân viên xã hội, hay những chuyên viên cố vấn, . . .   Nhiều người bệnh e ngại không muốn tìm sự giúp đỡ của những người này.

Thuốc để chữa chứng stress là loại thuốc làm dịu, chỉ nên dùng khi đang cơn khủng hoảng, và dùng trong ngắn hạn.  Có thể dùng các thuốc chống trầm cảm và các thuốc điều trị bệnh tâm thần trong một thời gian ngắn, dù thuốc có thể dùng trong một thời gian dài, vì thuốc thường gây lệ thuộc nếu sử dụng thường xuyên.   Thuốc rất tốt để vượt qua cơn khủng hoảng, và để cho ngưòi bệnh lấy lại bình tĩnh để đối phó vói stress.

H– Tôi luôn tự thấy mình có bản tính tự ti mặc cảm, còn thêm nhút nhác không muốn tiếp xúc với ai cả và cũng không muốn thay đổi lề lối sống của mình.  Đi khám bệnh, bác sĩ kê đơn dùng thuốc chống trầm cảm.  Tôi không uống vì tôi nghĩ tôi đâu có bệnh trầm cảm.  Tại sao bác sĩ cho tôi uống thuốc loại này ?

Đ- Tôi nghĩ ông mắc phải chứng loạn thần kinh về chức năng xã hội, trong đó người bệnh thường trực có mức độ lo âu và sợ sệt không có nguyên cớ.  Đó có thể là do sự thiếu kinh nghiệm cuộc sống ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ ôm ấp, chìu chuộng, cấm cản không cho tiếp xúc, chơi đùa với các trẻ khác, hoặc chứng trầm cảm, hoặc bị stress không có nguyên do rõ rệt.   Người bệnh cứ luôn luôn sợ hãi và rất lúng túng khi gặp phải những khó khăn với xã hội bên ngoài, đôi lúc muốn né tránh mọi người, né tránh các việc làm có người khác chú ý, hoặc sợ người khác cho mình là một người kém cỏi và đần độn.  Trường hợp bắt buộc phải đối đầu với công việc, bệnh nhân tỏ ra lúng túng, run rẩy, toát mồ hôi, nói năng lấp bấp, hồi hộp, tim đập nhanh, có khi hụt hơi, ngất xỉu. Cách điều trị là tìm người cố vấn, cho người bệnh tiếp xúc làm quen từ từ các vấn đề mà bệnh nhân hay lo sợ.  Uống thuốc chống trầm cảm trong ngắn hạn.  Khi bệnh nhân tự nhận biết mình đang mắc bệnh, tìm cách tự làm chủ bản thân, không còn lo sợ vớ vẩn nữa với sự quyết tâm sẽ đạt những kết quả mong muốn.


H- Em tôi bị bệnh trầm cảm phải chữa chạy cả năm trời mới bớt.  Bệnh đó là loại gì và có hậu quả lâu dài ra sao?

Đ- Bệnh trầm cảm thể hiện nhiều loại khác nhau.  Có trường hợp chỉ vì stress trong cuộc sống như bị đe doạ, hay mất việc làm, có khi người thân bị chết.  Cũng có những chứng trầm cảm do sự mất cân bằng về sinh hoá trong não bộ, xuất hiện không lý do rõ rệt.  Cần sự thăm khám tỉ mỉ và định bệnh chính xác trước khi điều trị.  Việc chẩn đoán rất khó vì không có thử nghiệm đặc hiệu nào hỗ trợ, chỉ trông cậy vào kinh nghiệm, tài năng lâm sàng của bác sĩ, cùng sự hợp tác chân thành của ngưòi bệnh.  Khi bệnh đã được xác định, bệnh nhân sẽ uống một hoặc hai thứ thuốc, thêm vào đó còn có những buổi tâm lý trị liệu, bàn bạc hỗ trợ.  Một số trường hợp được chữa khỏi, một số chỉ kiểm soát được triệu chứng giống như bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp, phải dùng thuốc suốt đời.  Điều cần thiết là phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc và bệnh nhân.  Bệnh nhân có thể có một cuộc sống bình thường.  Sự điều trị chỉ gây ra một số phản ứng phụ không đáng kể.  Một số khác kết quả không được tốt.

H: Mẹ của bạn tôi vừa mất và bạn ấy quá buồn rầu, bỏ ăn uống, không còn muốn làm việc gì cả.  Tôi có thể làm gì để giúp bạn trong hoàn cảnh này?
Đ: Vấn đề sinh tử là qui luật của cuộc đời nhưng có tầm quan trọng khác nhau tuỳ theo quan niệm, triết lý sống, văn hoá, tôn giáo của mỗi người.  Có người chấp nhận sự chết của bản thân hoặc của người thân một cách bình thản vì xem đó là vấn đề tất nhiên, mà bất cứ ai cũng phải một lần phải trải qua.  Nhưng có người lại không có thể chịu đựng được sự mất mát và xa lìa người thân, buồn rầu, đau khổ và sinh bệnh.  Đối với những người này, đừng để họ quá cô đơn, suy nghĩ liên miên khóc lóc.  Hãy tạo cho họ có những sự tiếp xúc, gần gũi bình thường với những người chung quanh cũng như ngoài xã hội, đừng để họ có giờ rảnh để nghĩ ngợi.  Cô hãy chuyện trò, an ủi, hỗ trợ tinh thần cho bạn cô.

H-Đứa con trai nhà tôi lên 3 tuổi.  Cháu đúng là một đứa con trai, ví nó thích chơi xe tăng và súng giả.  Cháu rất dễ thương, thường chui vào lòng tôi để được mẹ hôn hít vuốt ve.  Cha cháu không đồng ý cho tôi làm như vậy và trách tôi là sẽ làm cho thằng bé trở thành ẻo lả, yếu đuối khi cháu trưởng thành trong tương lai.  Ý kiến của bác sĩ thế nào?

Đ- Trên đời này, con người, dù lớn bé, già trẻ, trai hay gái đều thích người khác yêu thương.  Khi còn nhỏ nếu bị hất hủi, thiếu tình thương của cha mẹ, thì sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ sau này, khi bé trưởng thành.  Sự yêu thương của người mẹ dành cho con không bao giờ có thể khiến con trờ thành một đứa trẻ ẻo lả, yếu đuối cả, mà trái lại, có thể tạo dựng con trở thành một người vững vàng, biết bao dung, tha thứ và có tình thương yêu người khác.  Nhiều công trình nghiên cứu của  các nhà tâm lý về các thái độ không bình thường của đa số người , đã cho thấy một gia đình bất hoà, hoặc những đứa trẻ thiếu tình thương của cha mẹ, đến khi trưởng thành thường có những thái độ bất thường.  Cấm đoàn trẻ nhiều quá, hoặc che chở nuông chiều quá đáng đều có những hậu qủa không tốt.  Tuy nhiên, bà đừng lấy ý kiến của tôi để đối đầu với ông nhà.  Bà chỉ nên nhỏ nhẹ nói với ông nhà là những bà mẹ khác cũng đều làm như bà, và ông nhà cũng chẳng nên nghiêm khắc với cháu, để cháu có một tương lai tốt đẹp.

H: Tôi có nghe nói bệnh tâm thần phân liệt.  Đó là bệnh gì và biểu hiện các triệu chứng như thế nào?  Có thể điều trị khỏi được không?
Đ: Bệnh tâm thần phân liệt được dịch từ chữ schizophrenia là một bệnh tâm thần khiến người bệnh có sự nhận thức sai lạc các sự việc và có những thái độ bất thường.  Nguyên nhân gây bệnh chưa được biết rõ, nhưng yếu tố gia đình, môi trường sống chung quanh, và xúc động tâm lý đã thúc đẩy sự ngã bệnh.   Nếu một người có hai cha mẹ mắc bệnh tâm thần phân liệt thì xác suất 40% người ấy cũng có triển vọng bị bệnh.  Sự lạm dụng marijuana cũng là một yếu tố thúc đẩy mắc bệnh.  Bệnh nhân có cái nhìn lệch lạc về xã hội, sống trong sự buồn chán và hoang tưởng.   Trong khi nói chuyện, họ thay đổi đề tài luôn luôn mà không lý do, lười biếng chăm lo sức khỏe, vệ sinh và đời sống của chính họ, luôn luôn xa cách mọi người.  Người bệnh thay đổi tính tình và thái độ một cách lạ thường, và luôn tin rằng những người khác đang theo dõi và tìm cách hãm hại họ.  Họ còn nghe thấy những tiếng nói không thiện cảm văng vẳng bên tai, hoặc hoang tưởng sợ hãi.  Một số người nghĩ rằng người mắc bệnh sẽ dữ dằn hơn những người bình thường, nhưng thật sự không có gì khác, có chăng sự khác biệt là những người bệnh đôi khi tìm cách tự huỷ.  Nhiều bệnh nhân từ chối khám bệnh và uống thuốc vì họ không nhận ra họ đang mắc bệnh.  Không có xét nghiệm và cách thử nào đặc hiệu để hỗ trợ cho sự định bệnh.  Chẩn đoán bệnh hoàn toàn dựa vào khả năng và kinh nghiệm của bác sĩ khi tiếp xúc với bệnh nhân cũng như nhận xét về sự thay đôi thái độ của bệnh nhân do người nhà cung cấp.                                          

Về thuốc men điều trị, hiện có rất nhiều thuốc công hiệu (antipsychotics) để chữa bệnh tâm thần phân liệt bao gồm: clozapine, fluphenazine, olanzapine, promazine, risperidone, thioridazine, thiothixene, trifluoperazine, và đang có thêm nhiều thuốc mới nữa.  Những thuốc trên có dạng uống và chích để kiểm soát bệnh.   Chữa bệnh này cũng cần có sự hỗ trợ tâm lý người bệnh của gia đình.  Không có cách chữa khỏi được bệnh, nhưng có thể kiểm soát được bệnh. Và bệnh nhân có thể có được một cuộc sống bình thường, nếu bệnh nhân chịu khó uống thuốc đều lâu dài theo sự chỉ dẫn của bác sĩ và nhân viên y tế.


H: Tôi luôn luôn phải lo lắng, không chỉ vấn đề tài chánh mà còn việc học hành của các cháu, việc nhà cửa và nhiều thứ linh tinh khác.  Tôi thừa biết lo lắng không giải quyết được vấn đề, nhưng tôi vẫn cứ lo.  Có cách nào làm cho bớt lo không?
Đ: Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi được những lo lắng về nhiều tình trạng xảy ra hằng ngày, nào là việc học hành của con cái, công việc tại sở làm, vấn đề thu nhập tiêu pha, sự bất hoà trong mối quan hệ trong xã hội, sự đau ốm của bản thân và những người trong gia đình, và biết bao vấn đề khác nữa.  Có hai cách để đối phó với những lo âu thường nhật này là hành động để loại bỏ nguyên nhân của sự lo âu, và làm giảm sự quan trọng của sự lo lắng.  Chẳng hạn như tiền thu nhập không đủ để tiêu pha, thì tìm cách giảm chi tiêu và tìm việc làm phụ khác.  Bận tâm việc học hành các con thì thường xuyên liên lạc với thầy cô giáo để theo dõi việc học hành của chúng.   Có nhiều sự lo lắng không thể loại bỏ, nhưng nếu bớt quan tâm đi một chút, thì sẽ thấy thoải mái, dễ chịu hơn.  Đừng khư khư ôm lấy những lo lắng một mình, mà đem những sự việc đáng quan tâm của mình ra chia sẻ với mọi người thân trong gia đình hay bàn bạc với bạn bè tâm giao thân thiết, đôi khi rất hữu ích và sẽ giải toả những lo lắng triền miên đó mà chính mình chẳng giải quyết được gì, lại còn sinh thêm bệnh hoạn nữa.


H: Tôi sắp phải qua mấy kỳ thi quan trọng.  Mặc dầu hàng ngày tôi đã học hành kỹ lưởng, nhưng vẫn có sự lo lắng là không làm được bài và bị rớt.  Làm sao để có thể vượt qua tình trạng này?
Đ: Cách tốt nhất để đối phó với sự lo âu về thi cử là cần sửa soạn trước khi thi cho kỹ, và luôn tin tưởng rằng dù bài thi có khó mấy cũng có thể làm đưọc.  Thật ra bể học thì mênh mông, biết thế nào cho đủ, nhưng sự cần cù, nhẫn nại, liên tục và quyết tâm trong việc học hành rất cần thiết.  Những bài thi thường là để các học sinh có sức học trung bình có thể làm trôi chảy được.  Nhập tâm như vậy để yên chí rằng, nếu đã học hành kỹ lưởng thì không có lý do gì có thể thi rớt được, như vậy thì chẳng có gì phải lo cả.  Trong dân gian thường hay nói “học tài thi phận” chỉ xảy ra cho một số rất ít người thiếu may mắn hoặc ỷ y cậy mình học tài mà thiếu sửa soạn trước, để đến cận ngày thi mới học rút thi đôi khi phải chịu thất bại.  Một số thuốc có khả năng làm giảm sự lo âu, nhưng phần lớn lại làm an thần, buồn ngủ, và nếu dùng nhiều quá thì sẽ làm dễ rớt hơn.   Thuốc propranolol dùng để kiểm soát huyết áp cao và bệnh cường giáp (overactive thyroid) có thể được dùng với một liều thấp để kiểm soát stress khi cần tập trung suy nghĩ.   Tuy nhiên, nếu có bệnh suyễn thì không nên dùng được thuốc này.

H: Khi có một vấn đề gì dù nhỏ nhặt, tôi thường có cảm tưởng như ruột bị thắt lại, có khi cảm thấy đau nữa.  Có cách nào để tránh tình trạng này?
Đ: Thông thường, khi có một chuyện gì phải lo âu thì cơ bắp bị căng thẳng, kể cả thành ruột và bao tử.  Ruột và bao tử là những cơ quan rỗng mà thành là các thớ thịt không bị chi phối trực tiếp của não bộ, do vậy ta không thể điều khiển các bắp thịt ở ruột co thắt nhanh hơn hoặc chậm hơn.  Những thớ thịt đó phản ứng với stress bằng sự co thắt có khi làm đau.  Nếu tìm cách làm giảm được stress hoặc stress không còn quan trọng nữa thì sự co thắt cũng hết.  Như nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã có câu “Nghe như thắt ruột, tai làm điếc, Giận đã tím gan, miệng mĩm cuòi…” .  Trong dân gian cũng có câu “lo xoắn cả ruột” là cũng xuất phát từ hiện tượng này.  Muốn tránh chỉ có cách là làm sao kiểm soát được stress, hay tìm cách “quẳng gánh lo đi để vui sống”.

H:Thế nào là một bệnh nhân mắc bệnh trầm cảm?

Đ: Những nghiên cứu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization) tiên đoán rằng tới năm 2020 thì bệnh trầm cảm (major depression) sẽ trở thành căn bệnh thứ nhì dẫn đến tàn tật (disability) trên toàn thế giới và căn bệnh thứ nhứt dẫn đến tàn tật ở những nước đang phát triển.

Bệnh trầm cảm là một bệnh rất phổ biến. Cứ 100 người có đến 10 người bị bệnh này và xác suất bị bệnh này trong đời người (lifetime prevalence) có thể đến 15%. Hiện thời chưa có những thống kê về bệnh trầm cảm ở người Việt Nam. Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng cuộc sống gây căng thẳng tinh thần hay những biến cố tạo khủng hoảng trong cuộc sống là nguyên nhân gây bệnh trầm cảm.

Theo kinh nghiệm của người viết thì bệnh trầm cảm xảy ra ở người Việt Nam có xác suất cao hơn người Mỹ bản xứ. Lý do là đa số người Việt Nam sống ở hải ngoại là người tị nạn và họ đã trải qua rất nhiều biến cố, khủng hoảng trong đời sống. Những khủng hoảng đó là chiến tranh Việt Nam, tù cải tạo, thuyền nhân vượt biển, nhiều khó khăn đáp ứng với văn hóa nước ngoài và đời sống kinh tế không tốt đẹp.

Ta có thể ước lượng rằng xác suất của thế hệ thứ nhứt, sanh trưởng tại Việt Nam và di tản định cư ở hải ngoại, bị trầm cảm có thể gấp 2 hay 3 lần người bản xứ. Đây là thế hệ đã trải qua rất nhiều biến cố, khủng hoảng như đã kể trên. Một số người vì mưu sinh, sống còn đã vượt qua được những triệu chứng trầm cảm lần đầu tiên. Nhưng vài năm sau đó, hệ thống thần kinh bị suy nhược sẵn, chỉ có một biến cố nhẹ hơn trong cuộc sống (thí dụ như xích mích vợ chồng hoặc con cái rời nhà sống riêng) cũng có thể gây ra bệnh trầm cảm nặng (major depression).

Thế hệ thứ 1.5, sinh tại Việt Nam di tản và định cư theo cha mẹ ở nước ngoài lúc còn nhỏ, cũng có những căng thẳng riêng của họ. Đó là những mâu thuẫn về nguồn gốc của mình. Họ không hẳn là người Việt cũng không hẳn là người bản xứ hoàn toàn nên có nhiều khó khăn trong việc đáp ứng kết hợp văn hóa bản xứ với văn hóa của gia đình. Nếu theo phong tục của bạn thì về nhà phụ huynh không vừa lòng, còn theo phong tục gia đình thì khó đáp ứng được với bạn bè cùng trang lứa.

 Đ: Người Á châu ít chịu công nhận những triệu chứng của bệnh trầm cảm vì những lý do văn hóa. Hiện thời có rất nhiều sự hiểu lầm về bệnh trầm cảm. Xã hội tin rằng những người bị trầm cảm là những người lười biếng với ý chí bị suy kém. Người ta còn tin rằng bệnh trầm cảm là một bệnh tưởng tượng vì bác sĩ gia đình không tìm được nguyên do thể chất của những triệu chứng đau nhức của bệnh trầm cảm. Một số khác nghĩ rằng bệnh nhân trầm cảm có “tánh xấu” vì họ hay bực bội cau có gây gổ với mọi người xung quanh.

 H: Những dấu hiệu nào cho ta biết một người đang mắc bệnh trầm cảm?

Bệnh trầm cảm không giống như bệnh cảm, ta ngủ một đêm sáng thức dậy thấy mệt mỏi và nghẹt mũi. Bệnh trầm cảm xảy ra rất chậm cho nên đôi lúc bệnh nhân không nhìn ra được những dấu hiệu của nó vì những triệu chứng trầm cảm tăng từ từ. Đến lúc bệnh trầm cảm trở thành nặng, người bệnh không đi làm được hay không sinh hoạt bình thường trong gia đình thì mới tìm bác sĩ để trị bệnh.

Vì những lý do trên mà những bệnh nhân Á châu khi khai những triệu chứng trầm cảm, họ ít khi chịu khai những triệu chứng tâm lý mà liệt khai những triệu chứng thể xác đánh lạc hướng chẩn đoán của bác sĩ gia đình. Theo cách chẩn đoán của khoa tâm thần thì hai triệu chứng chính để chẩn đoán trầm cảm là: buồn sầu (depression) và mất sự hứng thú trong đời sống (anhedonia). Những triệu chứng này ít thấy những người bệnh nhân Á châu than phiền. Nếu có than phiền về sự mất hứng thú thì họ hay ghép vào đó một nguyên nhân chính đáng như cơ thể bị đau nhức kinh niên chẳng hạn. Vì thế một số đông bệnh nhân Á châu không được chẩn đoán và trị liệu đúng mức.

Những triệu chứng trầm cảm thường được thấy ở những bệnh nhân Á châu là những cơn đau nhức bất thường, giấc ngủ bị thay đổi (mất ngủ hay ngủ li bì), người hay mệt kinh niên, xáo trộn trong khẩu vị (ít ăn, xuống cân), hay quên, không tập trung tư tưởng được, người hay “tự ái”, dễ bực bội (irritability). Ngay cả triệu chứng bực bội cũng được che đậy qua những lý do như những căng thẳng ở sở làm, con cái không vâng lời, người hôn phối không đối xử tốt với mình. Chính vì thế mà khi mới nghe bệnh nhân kể lể, bác sĩ gia đình ít khi nghĩ đến bệnh trầm cảm. Thật ra những căng thẳng trong cuộc sống ai cũng có, nhưng đối với người bị trầm cảm căng thẳng được cảm nhận nhiều hơn bình thường.

H:  Xin bác sĩ giải thích vì sao bệnh nhân Á châu tránh né không muốn kể rõ tình trạng bệnh tâm thần của mình?

Đ:  Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng khoảng 60% bệnh nhân trầm cảm bị đau nhức trong người. Gần 1/3 (30%) bệnh nhân đau kinh niên bị bệnh trầm cảm. Ở nước Mỹ, hàng năm có khoảng 400 triệu chuyến khám bác sĩ (clinic visits) thì gần phân nửa là vì đau nhức. 90% những bệnh nhân có những triệu chứng tâm lý được chẩn đoán đúng mức. Nhưng chỉ có 50% bệnh nhân trầm cảm có triệu chứng thể xác được bác sĩ gia đình chẩn đoán và nhận ra bệnh trầm cảm. Nếu những bệnh nhân này có kèm theo những bệnh về thể xác thì xác suất nhận ra bị bệnh trầm cảm chỉ có 20% mà thôi.

Theo cách chẩn đoán của khoa Tâm Thần thì chỉ cần 2 tuần lễ có những triệu chứng trầm cảm kể trên thường xuyên ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và xã hội là hội đủ điều kiện của bệnh trầm cảm. Tuy nhiên trên thực tế, bệnh nhân chờ đợi rất lâu, cả tháng đến cả năm trời mới chịu đi khám bác sĩ. Thời gian chần chờ chữa trị lâu hơn ở bệnh nhân Á châu vì họ rất sợ bị gán cho cái bệnh tâm thần (mental illness). Khi chần chờ lâu thì hệ thống thần kinh bị suy thoái nhiều gây rắc rối cho việc chữa trị. Ngoài ra khi bệnh trầm cảm trở nên nặng thì bệnh nhân thường có những ý nghĩ chán đời, không muốn sống và thậm chí có ý định tự tử.

H: Như vậy bệnh trầm cảm có cơ sở thần kinh học (neurology)?

Đ: Những nghiên cứu chụp hình não mới nhất cho thấy rằng bệnh trầm cảm không phải là một bệnh “tưởng tượng” vì nó gây ra rất nhiều biến đổi trong sự hoạt động của não bộ. Những cơ cấu thần kinh (brain structures) và mạch thần kinh (neural circuits) điều hòa những triệu chứng căng thẳng thể xác được dùng chung với bệnh trầm cảm. Chính vì thế mà khi bị trầm cảm, bệnh nhân có nhiều triệu chứng tâm lý lẫn thể xác. Cái khác biệt là bệnh nhân Á châu lọc ra những triệu chứng tâm lý, chỉ khai với bác sĩ những triệu chứng thể xác.

Những nghiên cứu chụp hình não bằng MRI cho thấy rằng khi bị trầm cảm, hệ thống limbic (limbic system) hoạt động quá độ từ đó sinh ra những triệu chứng căng thẳng tinh thần như cau có, lo âu phiền não, mất ngủ, … Hệ thống cortex (cortical system) hoạt động yếu, sinh ra những triệu chứng như thiếu sự chăm chú, mất khả năng suy xét, mất sự nhậy bén lanh lẹ, … Khi bệnh trầm cảm được điều trị thì những mất quân bình kể trên đổi chiều và bình thường trở lại.

Khi bị trầm cảm lâu ngày, sự căng thẳng thường xuyên sẽ tạo ra những kích thích tố xấu (glucocorticoids) làm giảm những chất nuôi dưỡng tế bào thần kinh (Brain derived nerve growth factor, viết tắt BDNF). Khi glucocorticoids tăng và BDNF giảm thì sẽ làm hư hỏng một số tế bào thần kinh. Nhóm tế bào thần kinh kết cấu tạo thành vùng hippocampus rất nhậy cảm với glucocorticoids. Khi những tế bào thần kinh chết dần, cấu trúc này bị thoái hóa (atrophy). Vùng hippocampus của óc rất quan trọng trong việc giúp ta có trí nhớ ngắn hạn. Vì thế khi bị căng thẳng hay trầm cảm lâu ngày không trị liệu thì trí nhớ sẽ bị ảnh hưởng xấu. Lạm dụng xì ke ma túy cũng có tác động tương tự lên vùng hippocampus.

H- Xin cho biết những nguy cơ có thể xảy ra khi bệnh trầm cảm không được chữa trị đúng mức.

Đ Có rất nhiều nguy cơ xảy ra khi bệnh trầm cảm không được điều trị đúng mức. Nguy cơ ở cá nhân, khi bị căng thẳng (stress) lâu ngày thì sẽ làm hư hỏng nhiều phần của não bộ. Mới đầu ta chỉ thấy sự xáo trộn trong sự phân phối hoạt động của các vùng trong não bộ, như vùng limbic hoạt động quá độ còn vùng cortex hoạt động kém hơn. Khi để lâu sự mất quân bình này dẫn đến sự xáo trộn về chất thần kinh giao nối (neurotransmitter imbalance) và sau đó dẫn đến sự xáo trộn về nội tiết (endocrine imbalance). Khi nội tiết bị xáo trộn thì hiện nay chưa có cách trị hữu hiệu vì khoa học chưa phát minh ra thuốc trị nội tiết mất quân bình.

Bệnh trầm cảm ảnh hưởng xấu đến các bệnh thể xác khác một cách gián tiếp và trực tiếp. Căng thẳng của chứng trầm cảm làm bệnh nhân cảm thấy đau nhức nhiều hơn người không bị trầm cảm. Khi uống thuốc thì họ bị phản ứng phụ nhiều hơn vì sự căng thẳng làm giảm sự chịu đựng của cơ thể họ, do đó mà các bệnh khác không được trị đúng mức. Khi bị trầm cảm nặng, bệnh nhân chán chường nên bỏ bê việc uống thuốc thường xuyên, không tập thể dục và ăn uống bất thường làm các bệnh như tiểu dường hay cao máu nặng hơn. Ngoài ra trầm cảm cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn nhiễm (immune system), các bệnh tim mạch, đường ruột, hô hấp làm triệu chứng của các bệnh này nặng hơn.

Ở nam giới bệnh trầm cảm không được chữa trị dễ dẫn đến lạm dụng rượu, hút thuốc và xì ke ma túy. Sự nghiện ngập hút xách sẽ làm bệnh trầm cảm nặng hơn. Nó sẽ dẫn đến sự sụp đổ gia đình rất nhanh. Những nghiên cứu cho thấy sự bạo hành gia đình tăng lên với người bị trầm cảm. Nguy cơ tử vong khi tự tử rất cao ở nam giới bị trầm cảm. Nguy cơ này cao hơn nữa nếu bệnh nhân trầm cảm hút xách và mất tự chủ. Ngoài ra còn có nguy cơ làm hại sinh mạng kẻ khác khi trong lúc say rượu và tuyệt vọng, bệnh nhân giết con cái hay hôn phối của mình.

Về gia đình thì người bệnh trầm cảm bỏ bê sinh hoạt gia đình, thích ở trong phòng một mình, hay gây gỗ với người thân, họ bị tự ái quá độ, tình cảm mất quân bình, dễ la lối khóc lóc vì thế mà quan hệ gia đình rất căng thẳng. Một số người mất sự thích thú tình dục, không thích chưng diện, không chăm sóc người phối ngẫu, làm quan hệ hôn nhân bị lung lay. Nếu là phụ huynh thì sự chăm sóc con cái bị suy giảm, khiến người phối ngẫu phải làm việc nhiều hơn, đó cũng là một nguyên nhân đưa đến sự xung đột trong gia đình. Phụ huynh bị trầm cảm không dằn được cơn bực bội hay la mắng, thậm chí đánh đập con cái rồi sau đó họ bị mặc cảm tội lỗi dày vò. Nguy cơ ly dị ở người bị trầm cảm cao hơn bình thường.

Người bệnh trầm cảm không đáp ứng được với những nhu cầu của công việc. Họ dễ bị căng thẳng khi bị đồng nghiệp hay chủ sở phê bình. Họ làm việc chậm hơn người thường vì thiếu chăm chú và hay quên. Họ hay mất ngủ và sáng vào sở uống cà phê thật nhiều. Lạm dụng cà phê sẽ làm cơ thể căng thẳng hơn và sau đó họ sẽ lâm vào trường hợp mệt mỏi và hay bị lo âu quá độ. Lâu ngày tinh thần sẽ sa sút càng nhiều và những căng bệnh thể xác như nhức mỏi, nhức đầu sẽ ngày càng nhiều. Đến mức độ nào đó họ sẽ mất khả năng làm việc hữu hiệu và bị đuổi sở. Khi mất việc làm thì bệnh trầm cảm sẽ qua giai đoạn nặng, có nguy cơ tự tử.

Nói tóm lại những cảnh địa ngục trần gian sẽ tránh được khi bệnh trầm cảm được chẩn đoán và điều trị đúng mức.

 H- Cách phòng ngừa và trị liệu bệnh trầm cảm.

 Đ- Bệnh trầm cảm không phải lúc nào cũng phải được trị bằng thuốc men. Ta có thể thay đổi cuộc sống và lối suy suy nghĩ để tránh bệnh trầm cảm trở thành nặng. Một số người khi thay đổi cách suy nghĩ và lối sống thì căng thẳng (stress) giảm đáng kể, từ đó mà các triệu chứng trầm cảm bớt đi và có thể hết. Thí dụ như giảm công việc lại, làm ít giờ hơn, có nhiều thời gian sinh hoạt với gia đình, dành nhiều thời giờ đối thoại với người phối ngẫu để san bằng cái hố hiểu lầm. Nếu là sinh viên thì giảm số giờ học (units) lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và ăn ngủ điều độ. Tránh lạm dụng cà phê hay rượu chè. Tập thể dục thể thao cũng có khả năng làm giảm trầm cảm. Tập thể thao thường xuyên sẽ làm tăng chất nuôi dưỡng tế bào (BDNF), giúp những tế bào thần kinh sống lâu hơn.

Tìm hiểu tôn giáo để học hỏi những cách sống cho tâm hồn thư thản cũng là một cách phòng ngừa trầm cảm. Những nghiên cứu cho thấy tâm tĩnh lặng (mindfulness) rất hữu hiệu trị lo âu và trầm cảm. Khi suy nghĩ lo âu nhiều quá thì ta tạo căng thẳng cho hệ thống thần kinh. Khi hệ thần kinh làm việc quá độ thì sẽ gây ra những triệu chứng lo ra và mất trí nhớ. Tâm tĩnh lặng tạo những thay đổi tốt cho não bộ và được thể hiện qua sơ đồ điện não (EEG) và chụp hình PET scan. Căng thẳng kinh niên sẽ gây ra bệnh trầm cảm. Tinh thần cạnh tranh, hơn thua tạo ra rất nhiều căng thẳng và không thích hợp với bệnh trầm cảm. Nếu người có di truyền trầm cảm, căng thẳng sẽ làm trầm cảm phát triển sớm hơn. Những pháp môn tôn giáo như niệm Phật, cầu nguyện Chúa, hay thiền là những cách gián tiếp hay trực tiếp dẫn đến tâm tĩnh lặng.

Tâm lý học có những phương pháp tâm lý trị liệu như tâm lý trị liệu nâng đỡ (supportive therapy), tâm lý trị liệu nhận thức và hành động (cognitive behavioral therapy) để giúp người bị trầm cảm đi qua những cơn khủng hoảng tinh thần và giúp họ hội nhập vào gia đình và xã hội. Tâm lý trị liệu dùng tâm tĩnh lặng (mindful therapy) rất thành công ở những bệnh nhân bị ung thư và trầm cảm đi đôi. Ở những bệnh trầm cảm nặng, tâm lý trị liệu phối hợp với thuốc men công hiệu hơn là trị thuốc men một mình.

H: Xin chỉ dẫn cách điều trị bệnh trầm cảm bằng thuốc men.

Đ: Nói về cách trị liệu bệnh trầm cảm bằng thuốc thì hiện nay nhóm thuốc làm tăng Serotonin (Selective Serotonin Reuptake Inhibitor-SSRI) rất phổ biến trong việc dùng trị bệnh trầm cảm. Nhóm thuốc này gồm có Fluoxetine (Prozac), Paroxetine (Paxil), Sertraline (Zoloft), Citalopram (Celexa) và Escitalopram (Lexapro). Những loại thuốc trên có thể đều có công dụng bằng nhau nhưng khác về phản ứng phụ. Bác sĩ tùy triệu chứng của bệnh nhân mà chọn thuốc. Ngoài ra còn có nhóm thuốc ảnh hưởng Serotonin và Norepinephrine (Serotonin-Norepinephrine reuptake inhibitor- SNRI). Nhóm thuốc này gồm có Venlafaxine (Effexor) và Duloxetine (Cymbalta). Còn nhiều thuốc nữa không tiện liệt kê ra hết. Càng ngày càng có nhiều loại thuốc mới ra nên việc trị liệu bệnh trầm cảm tương đối hữu hiệu hơn lúc trước.

 H– Xin cho biết những điều cần quan tâm khi trị bệnh trầm cảm bằng thuốc men.

Đ-Những nghiên cứu thuốc trầm cảm ở trẻ em cho thấy rằng loại thuốc này có thể tăng những ý muốn tự vận. Không có trường hợp hoàn tất tự tử (suicide completion). Con số này rất nhỏ tuy nhiên FDA vẫn ra thông báo để cho các bác sĩ đề phòng. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng một số những đứa trẻ có ý muốn tự vận bị chẩn đoán lầm. Những em này có thể bị bịnh tình cảm lưỡng cực (bipolar affective disorder), khi uống thuốc trầm cảm, trong người thấy bứt rứt khó chịu hay bực bội nhiều hơn mà không tự chủ được.

Những giai đoạn bác sĩ cần theo dõi bệnh nhân kỹ là giai đoạn khởi đầu uống thuốc và giai đoạn điều chỉnh thuốc liều cao hơn. Nếu bệnh nhân uống thuốc trầm cảm cảm thấy khó chịu, có những cơn vui quá độ (mania), cảm thấy năng lực tăng thật nhiều mà không cần ăn và ngủ, thì nên dừng thuốc và thông báo bác sĩ tức thời. Nói chung, thuốc trị trầm cảm rất an toàn.

Bệnh trầm cảm không phải là một bệnh tưởng tượng như người ta thường nghĩ. Người bệnh trầm cảm không thể dùng ý chí để vượt qua căn bệnh này mà cần phải được trị liệu đúng cách. Bệnh này cũng không hẳn chỉ là bệnh tâm thần vì nó có nhiều triệu chứng về thể xác, và nó có cơ sở thần kinh sinh lý học (neurobiology). Nếu không trị đúng mức bệnh này sẽ gây tai hại cho cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội.

H: Xin cho biết những hình thái rối loạn tâm thần.

Đ: Bệnh rối loạn tâm thần (anxiety) có nhiều hình thái:

* Căng thẳng toàn diện (generalized anxiety disorder).

* Kinh hoảng đột ngột (panic disorder).

* Ám ảnh (obsessive-compulsive disorder).

* Sợ hãi vô lý (phobic disorder).

* Rối loạn tâm thần sau một biến cố (posttraumatic stress disorder).

H: Xin nói rõ những triệu chứng bệnh căng thẳng toàn diện.

Đ: Triệu chứng của bệnh căng thẳng toàn diện (generalized anxiety disorder) rất đa dạng, giống triệu chứng bệnh của nhiều cơ quan khác nhau. Người bị căng thẳng toàn diện có thể có một hay nhiều triệu chứng sau:

– Thường xuyên cảm thấy căng thẳng và dễ nổi nóng bất thường. 

– Hay giật mình, hoặc phản ứng quá đáng khi nghe tiếng động hay khi có việc gì lạ xảy ra.

– Khó tập trung tư tưởng để suy nghĩ hoặc làm việc, đầu óc nhiều khi như trống rỗng. 

– Khó ngủ: khó dỗ giấc ngủ hoặc chợt thức giấc giữa đêm và không ngủ lại được. 

– Chóng mặt, choáng váng: triệu chứng này rất thông thường ở những giai đoạn đầu của bệnh anxiety. Người bệnh thường xuyên cảm thấy chóng mặt, choáng váng và có cảm tưởng như đi không vững hay sắp bị ngất xỉu.

– Cảm giác như bị mất thăng bằng khi đi đứng: nhiều bệnh nhân mô tả cảm giác mất thăng bằng giống cảm giác như đang đi trên thuyền bồng bềnh trên mặt biển. Nhiều người khác mô tả chân như không có sức, không đặt xuống đất được bình thường. Có người lại cảm thấy như thân hình đang bị nghiêng sang một bên và cảm thấy cần phải cố gắng nghiêng người sang phía bên kia để lấy lại thăng bằng.

– Khó thở: người bệnh hay cảm thấy ngộp thở, có cảm giác không hít vào đủ dưỡng khí cho cơ thể nên phải thường xuyên hít thở sâu và nhanh.

Thường thường triệu chứng này không đến nỗi nặng, và người bệnh chỉ có thói quen hay hít thở một hơi thật sâu và dài. Nếu cơn khó thở nặng hơn, người bệnh thở vừa sâu vừa nhanh và dồn dập. Thở như vậy một lúc, người bệnh sẽ hít vào quá nhiều Oxygen, và thải khí Carbon dioxide từ phổi ra nhanh quá. Hậu quả là những xáo trộn biến dưỡng sẽ xảy ra, tạo ra những triệu chứng mới, như tê quanh miệng, tê ở đầu các ngón tay, choáng váng, chóng mặt, hoa mắt, tay chân co quắp và cuối cùng, có thể ngất xỉu. Trong trường hợp này, cho người bệnh hít thở ngay vào một bao giấy sẽ làm người bệnh mau chóng hồi phục. 

– Hồi hộp: đa số người bị anxiety đều cảm thấy tim đập mạnh, nhanh hoặc thất nhịp. Chính vì vậy, người bị anxiety hay nghĩ mình bị bệnh tim và đi thăm hết bác sĩ tim này đến bác sĩ tim khác. 

– Đau hay tức ngực: khoảng 60% người bệnh bị anxiety than đau hay tức ngực. Người bệnh thường mô tả ngực bị đè nặng ở vùng tim bên ngực trái. Thường đây là một cảm giác liên tục, ê ẩm và nằm sâu  trong ngực. Cảm giác ấy khiến người bệnh càng cuống lên, nghĩ mình bị bệnh tim gây “heart attack”.

– Cảm giác như bị nghẹn (choking sensation): rất nhiều người bị anxiety có triệu chứng này. Suốt ngày, họ có cảm giác như có vật lạ trong cổ họng làm nghẽn đường thở.

– Bị tê: 2/3 số người mang bệnh anxiety than bị mất cảm giác hoặc có cảm giác như có kiến bò ở tay, bàn tay, bàn chân, ở quanh mắt hay miệng.

– Nóng lạnh: 72% người bệnh có triệu chứng ớn lạnh hay cảm thấy có những luồng hơi nóng xông lên bất thường. Có người thấy ớn lạnh một phần cơ thể hay dọc theo xương sống. Ngược lại, có những người khác thấy từng luồng hơi nóng xông lên bụng, ngực, cổ rồi biến mất. Có người lúc đó cảm thấy mặt nóng và đỏ.

– Buồn nôn: buồn nôn cũng là một triệu chứng thông thường của bệnh anxiety. Tuy nhiên, khi kể bệnh, lại ít người đề cập đến điều này.

– Tiêu chảy: có người hay bị tiêu chảy. Đa số chỉ thỉnh thoảng bị tiêu chảy. Có người bị nặng đến độ phải mang tã và không dám đi đâu xa nhà.

– Nhức đầu hay nhức mỏi các bắp thịt: 86% người có bệnh anxiety bị nhức đầu hay nhức mỏi các bắp thịt kinh niên, đặc biệt là các bắp thịt vùng cổ và lưng. Họ gần như phải uống thuốc đau nhức mỗi ngày. Khi được chữa trị đúng cách, anxiety bớt, đau nhức cũng thuyên giảm.

– Mệt mỏi: hầu hết người bị anxiety đều than mệt mỏi. Cái mệt mỏi thông thường của một người bình thường nhưng làm việc quá sức là vào buổi chiều, sau một ngày làm việc. Cái mệt mỏi của người bị anxiety xảy ra cả ngày. Người bị anxiety lúc nào cũng thấy mệt mỏi và như không có sức.

 H: Những nguyên nhân nào đưa đến bệnh căng thẳng tâm thần toàn diện?

Đ: Chúng ta đã biết thế nào là “anxiety”, một tình trạng căng thẳng, sợ hãi của tinh thần, thường có những phản xạ của thể xác đi kèm như tim đập mạnh, mặt tái, tay chân run rẩy, người bủn rủn… Một chút “anxiety” thì tốt, giúp ta hoạt động, hoàn thành mọi công việc hằng ngày, nhưng nhiều “anxiety” quá là bệnh, là có rối loạn (“anxiety disorder”).

 Sao lại có những người lúc nào cũng cảm thấy lo âu, sợ hãi, người luôn căng thẳng. Cũng có người bệnh như giả vờ, thỉnh thoảng lên những cơn kinh hoảng đột ngột (panic attack), tưởng chừng sắp chết đến nơi, một chặp sau đã lại tươi như hoa. Rồi những người đầu óc luôn đầy những ám ảnh vô lý, biết mà không sao gạt ra được.

Nguyên nhân của căn bệnh anxiety còn nằm trong vòng giả thuyết. Tuy thế, càng ngày người ta càng ngờ rằng anxiety là do sự xáo trộn của những chất dẫn truyền trong óc ta.

Óc ta được tạo bởi muôn ngàn những sợi thần kinh nối kết với nhau một cách tinh vi. Đuôi của sợi thần kinh nọ nối kết với đầu của sợi kia. Mọi tư tưởng hoặc hành động của ta đều do sự dẫn truyền của các luồng điện thần kinh, từ sợi thần kinh nọ tiếp sang sợi thần kinh kia trong óc.

Ở những chỗ nối kết của các sợi thần kinh, các đuôi thần kinh tiết ra những chất kích thích đặc biệt (stimulants) gọi là catecholamines. Những chất kích thích này tác động vào đầu của những thần kinh kế tiếp, tạo ra các phản ứng hóa học giây chuyền giúp vào sự dẫn truyền luồng thần kinh. Người ta tin rằng trong bệnh anxiety, đuôi các thần kinh tiết ra quá nhiều các chất kích thích catecholamines, khiến các luồng thần kinh được dẫn truyền nhanh hơn, tạo nên các triệu chứng của bệnh anxiety. 

Ngược lại, cũng có những chỗ đuôi thần kinh tiết ra những chất hóa học có tác dụng làm trung hòa chất catecholamines, do đó làm êm dịu, giảm bớt sự dẫn truyền thần kinh. Một giả thuyết khác được đưa ra: hay những chỗ tiết ra các chất hóa học có tác dụng làm êm dịu ấy, vì một lý do nào đó, tiết ra những chất này không đủ về số lượng hoặc bị thiếu phẩm chất? 

Có thể những bất thường gây bệnh anxiety có tính di truyền. Các khảo cứu cho thấy vị nào có thân nhân trong gia đình bị anxiety, dễ bị anxiety hơn người khác.

Vai trò của những yếu tố bên ngoài cũng được đặt ra. Người trong thời thơ ấu từng chứng kiến hoặc phải chịu đựng hoàn cảnh thương tâm sau dễ bị anxiety. Một người có sẵn những yếu tố di truyền, sinh học, tâm lý (genetic, biologic, psychological factors) trong cơ thể gây anxiety, khi sống trong một môi trường an bình, sẽ ít bị anxiety hơn là phải sinh sống trong một môi trường nhiều nhiễu nhương. Sau mỗi cơn động đất, đa số chúng ta chỉ lo âu, sôi nổi bàn tán vài ngày, có người cười vui: “Sống chết có số”, song người bệnh anxiety đâm lo âu, hồi hộp, mất ăn mất ngủ cả tháng.

Nhiều bệnh thể xác (bệnh cao áp huyết, các bệnh tim, phổi, …), và nhiều thuốc dùng (cà phê, thuốc chữa suyễn, chữa nghẹt mũi, …) có thể gây những triệu chứng giống triệu chứng của bệnh căng thẳng tâm thần, khi đi khám bác sĩ, chúng ta nên mang theo những thuốc đang dùng hàng ngày để bác sĩ xem.

H: Chứng bệnh tâm thần căng thẳng toàn diện có thể chữa trị được không?  Nếu chữa trị thì chữa bằng cách nào?

Đ: Trừ những bậc chân tu đắc đạo, những âu lo, căng thẳng là những phản ứng bình thường của mọi người trần chúng ta, khi ta phải đương đầu với những đe dọa. Những âu lo bình thường như vậy không cần đến những chữa trị bằng thuốc. Nhưng khi âu lo, căng thẳng đi quá một mức bình thường so với sự đe dọa, khiến cuộc sống bạn mất vui, bạn không làm ăn gì được, bạn cần sự chữa trị. 

Bệnh nào cũng thế, có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng. Nhẹ, ta hãy thử trước những cách chữa không cần dùng thuốc. Nặng, cần đến thuốc uống, thêm vào những cách chữa không dùng thuốc.

 1. Các cách chữa không dùng thuốc (nondrug therapy):

Đa số những trường hợp anxiety nhẹ không cần phải dùng đến thuốc. Chỉ cần một thái độ hiểu biết, nâng đỡ của bác sĩ, cùng một vài chỉ dẫn hợp lý là đủ (supportive therapy).

Bạn lo quá, chết chửa, sắp mất quyền lợi của người không phải là công dân đất Mỹ? Vậy bạn… nên thi nhập tịch để trở thành công dân Mỹ. Hãy biến âu lo thành hành động, biến căng thẳng thành vũ khí lợi hại giúp ta hăng hái học thi. Hãy sử dụng “anxiety” như một người bạn tốt.

Bạn hay bồn chồn, hồi hộp quá đáng mỗi khi có những sự việc bất ngờ xảy ra? Vậy khi làm việc gì, ta nên so đo, trù liệu kỹ lưỡng, để tránh được những bất ngờ. Một người mỗi khi sắp sửa đi làm, lại thấy căng thẳng, mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, đứng không vững. Hỏi ra mới biết có sự xung khắc trầm trọng với một anh bạn cùng sở. Nhiều giải pháp được đặt ra: “dĩ hòa vi quí”, làm hòa với người bạn cùng sở, xin thuyên chuyển sang department khác, hoặc tìm một công việc khác tuy có ít lương hơn, nhưng gần nhà, mỗi ngày lại khỏi phải nhìn ngắm gương mặt khó ưa ấy, …

Khi vấn đề gây anxiety được giải quyết thỏa đáng (problem solving), nhiều phần là các triệu chứng anxiety của bạn sẽ biến mất.

Triệu chứng của bạn nặng hơn, bạn lại không thích dùng thuốc, bạn cần tìm đến tâm lý trị liệu (psychologic therapy), hướng dẫn bởi một tâm lý gia (psychologist). Tâm lý trị liệu có mục đích soi sáng cho bạn biết rõ vấn đề của mình (cognitive therapy), giúp bạn thay thế những phản ứng không thích ứng bằng những phản ứng được xem là thích ứng hơn, lành mạnh hơn, khi phải đương đầu với những căng thẳng của cuộc sống hằng ngày. Bạn có những hãi sợ vô lý ư, tâm lý trị liệu cũng giúp bạn từ từ tiếp xúc với những hoàn cảnh hay làm bạn hãi sợ, rồi giúp bạn quen dần với những hoàn cảnh này (exposure and desensitization).

Các phương pháp làm dãn nở từng nhóm bắp thịt (relaxation techniques) hoặc biofeedback (khách quan cảm nhận sự căng thẳng của cơ thể, rồi tìm cách làm thay đổi các căng thẳng này) rất tốt. Các phương pháp trên dựa vào khái niệm tinh thần và thể xác có những tương quan mật thiết, tuy hai mà là một. Khi bị anxiety, thể xác, cụ thể là các nhóm bắp thịt (nhất là các bắp thịt vùng đầu, cổ và lưng), cũng ở trong tình trạng căng thẳng (do vậy, người bị anxiety hay nhức đầu, mỏi cổ, đau vai, mỏi lưng). Meditation (thiền, cầu nguyện hoặc suy tưởng theo chiều hướng lạc quan) giúp nhiều người nhìn cuộc sống với con mắt khoan hòa, lạc quan hơn. Còn thể dục, thể thao nữa, cũng giúp cơ thể khỏe mạnh, thư thái, làm giảm các căng thẳng tinh thần.

 2. Chữa trị bằng thuốc:

Anxiety nặng (thường xuyên căng thẳng, hồi hộp, mất ngủ, không thể tập trung tư tưởng, …) cần đến sự chữa trị bằng thuốc, phối hợp với các phương pháp không dùng thuốc kể trên.

Thuốc chữa bệnh anxiety có nhiều loại:

·                    Các thuốc an thần Benzodiazepines:

Các thuốc thuộc nhóm benzodiazepines (như Xanax, Valium, Klonopin, Ativan, Serax, …) là những thuốc an thần ra đời đầu tiên, và rất hữu hiệu để chữa bệnh anxiety.

Thuốc mau chóng làm các triệu chứng thuyên giảm, nhưng có bất lợi là hay gây nghiện. Mau lắm, chỉ sau vài tuần dùng thuốc liên tục, cơ thể ta đã quen với thuốc, không có thuốc đâm khó chịu, buồn nôn, ăn mất ngon, buồn sầu, thấy cuộc đời không thực (depersonalization), những chuyển động bình thường của cơ thể nay thấy kỳ kỳ làm sao ấy (abnormal perception or sensation of movement), có khi lên cơn kinh giật (seizure). Đang dùng thuốc loại này, nhất là với lượng cao, và đã dùng một thời gian khá lâu, bạn không nên bất ngờ bỏ thuốc, nếu không có ý kiến của bác sĩ.

Nhiều trường hợp căng thẳng tâm thần tạm thời chỉ cần dùng thuốc 5 đến 7 ngày là đủ. Với những tình trạng căng thẳng tâm thần kinh niên, sự dùng thuốc có khi cần kéo dài nhiều tháng. Khi dùng những thuốc an thần này, tuyệt đối bạn không nên uống rượu, vì thuốc và rượu phối hợp với nhau, có thể làm bạn gây tai nạn khi đang lái xe.

·                    Thuốc Buspirone:

Chính vì tác dụng gây nghiện của những thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepines, các bác sĩ hiện nay không còn dùng nhiều những thuốc thuộc nhóm này như trước, cho những tình trạng căng thẳng tâm thần kinh niên. Thay vào đấy là những thuốc mới.

Thuốc Buspirone tốt để chữa những tình trạng căng thẳng toàn diện (generalized anxiety), lúc nào cũng hồi hộp, lo âu. Có điều, mất từ 2 đến 4 tuần thuốc mới phát huy được hiệu lực của nó. Nên, trong lúc chờ đợi, bạn cần nhiều đến sự nâng đỡ tinh thần của những người thân, hoặc tạm thời dùng thêm thuốc thuộc nhóm benzodiazepines kể trên.

·      Thuốc chống sầu buồn (antidepressants):

Đây là một nhóm thuốc rất quan trọng. Đầu tiên, người ta tìm ra những thuốc này để chống bệnh sầu buồn (depression). Dùng thuốc lâu, người ta lại khám phá thêm được những cái tốt khác của chúng. Chúng chống được cả các tình trạng căng thẳng tâm thần toàn diện (generalized anxiety), ám ảnh (obsessive-compulsive disorder), rồi, với bệnh kinh hoảng đột ngột (panic disorder), hoặc hãi sợ vô lý (phobic disorder), chúng cũng trị tuốt luốt. Ôi, đời ta sẽ mất vui nhiều lắm nếu không có chúng. Chúng ít gây phản ứng bất lợi, lại không gây ghiền như các thuốc an thần benzodiazepines, nên có thể dùng dài lâu.  

Nhóm thuốc này tốt, nên các hãng thuốc đua nhau chế thêm nhiều thuốc. Chỉ xin đan cử một ít tên thuốc, để bạn quen dần với những thuốc thuộc nhóm này: Tofranil, Elavil, Pamelor, Anafranil, Prozac, Paxil, Effexor, … (Thuốc tây không giống “thuốc bắc”, có tên có tuổi đàng hoàng.)

Có thuốc tác dụng trong vòng vài ngày, có thuốc trong vòng vài tuần. Bạn nên kiên nhẫn. Đặc biệt, thuốc Elavil của nhóm này hay được dùng để chữa nhiều chứng đau nhức, đem lại kết quả rất tốt.

H: Phương cách chữa trị bệnh căng thẳng tâm thần toàn diện như thế nào?

Đ:  Tùy trường hợp, căng thẳng tâm thần có thể được chữa trị bằng những phương pháp không cần dùng thuốc, hoặc cần chữa bằng thuốc. Cho những trường hợp nặng, kinh niên, lai rai suốt đời, chữa trị bằng thuốc đưa đến kết quả nhanh chóng hơn, nhưng tâm lý trị liệu giúp kết quả của sự chữa trị kéo dài hơn. Phối hợp cả hai phương pháp chữa trị, thuốc và tâm lý trị liệu, đưa đến kết quả tốt đẹp nhất.

Bệnh căng thẳng tâm thần có khỏi hẳn được không? Cùng còn tùy. Những trường hợp nhẹ, thỉnh thoảng người bệnh mới có triệu chứng, và cần chữa trị lại. Những trường hợp nặng, kinh niên, sẽ lai rai hoài, cần chữa trị dài lâu. Sự chữa trị tuy không chữa khỏi được căn bệnh, nhưng nhắm mục đích giúp người bệnh vui sống, làm việc bình thường để tiếp tục thăng tiến bản thân, đồng thời đóng góp vào sự thịnh vượng chung của gia đình và xã hội.

Ngày trước, khi người ta chưa hiểu rõ về bệnh anxiety, sau khi thăm khám cho bạn, và không tìm thấy gì lạ, nhiều phần bác sĩ sẽ nói: “Ô, có gì đâu, ông bạn chỉ hay khéo tưởng tượng (it’s all in your mind)”. Nay, bác sĩ đã nói khác: “Bạn bị căng thẳng tâm thần đấy, Mỹ họ gọi là ‘anxiety’. Sự chữa trị, đặc biệt là sự hiểu biết thấu đáo về chứng bệnh này sẽ làm bạn yên tâm và triệu chứng của bạn sẽ thuyên giảm”.

H: Tôi có nghe nói về bệnh tâm thần kinh hoàng đột ngột.  Xin nói rõ cho tôi hiểu về chứng bệnh đó. 

Đ: Bệnh tâm thần kinh hoảng đột ngột (panic disorder) là bệnh tâm thần gây những cơn sợ hãi, kinh hoảng rất đặc biệt. Bệnh xảy ra thường lắm, nhiều không kém bệnh suyễn. Dựa theo những trường hợp bệnh được báo cáo, người ta cho rằng cứ trong 100 người, có 1 đến 3 người mang bệnh này (1-3%). Trên thực tế, có lẽ con số này còn cao hơn, vì có nhiều trường hợp bệnh bác sĩ định lầm thành bệnh khác (tưởng rằng bị bệnh suyễn, bệnh tim, …). Bệnh hay bắt đầu trong khoảng tuổi 18 đến 45.

Bệnh kinh hoảng gây những ảnh hưởng tai hại trên đời sống của người bệnh ngang ngửa với bệnh trầm cảm (major depression): cuộc sống mất vui, khả năng làm việc suy giảm, gia đình xáo trộn. Theo một báo cáo, số ngày nghỉ việc của người bệnh kinh hoảng cao hơn số ngày nghỉ việc của người bệnh tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận.

 H: Như vậy xin cho biết bằng cách nào để biết được chứng bệnh kinh hoàng  đột ngột?

 Đ: Bệnh gây những cơn kinh hoảng rất đột ngột (panic attack). Trong những cơn kinh hoảng, người bệnh cảm thấy khó chịu, sợ hãi, căng thẳng tinh thần dữ dội, đồng thời có những triệu chứng thể chất đi kèm. Những cơn kinh hoảng thỉnh thoảng mới xảy ra, hoặc có thể đến viếng người bệnh vài lần mỗi ngày. Thường chúng kéo dài vài phút đến một tiếng, nhưng thỉnh thoảng, cũng có nhiều trường hợp chúng kéo dài đến vài giờ đồng hồ.

Trong một cơn kinh hoảng như vậy (có khi nhẹ, có khi nặng), người bệnh thường có ít nhất 4 trong các triệu chứng sau đây, xảy ra một cách đột ngột, và nhanh chóng tăng cường độ trong vòng 10 phút:

– Hồi hộp, thấy tim đập mạnh hay nhanh.

– Toát mồ hôi.

– Run rẩy tay chân.

– Cảm giác ngộp thở.

– Cảm giác bị nghẹn (choking).

– Đau ngực hay thấy khó chịu trong ngực.

– Buồn nôn hay thấy khó chịu trong bụng, đau vùng bụng trên.

– Thấy chóng mặt, không vững, choáng váng hoặc xỉu.

– Cảm thấy không thực (feelings of unreality) hoặc có giảm giác thoát xác, mình tự thoát ra khỏi mình (being detached from oneself).

– Sợ không còn kiểm soát được chính mình hay muốn phát điên lên.

– Sợ chết.

– Bị tê (mất cảm giác hay có cảm giác như kiến bò).

– Ớn lạnh (chills) hay ngược lại, thấy nóng phừng (hot flushes).

Điều đáng sợ là người bệnh cảm thấy được cơn kinh hoảng sắp xảy ra mà vẫn không tự trấn tĩnh được. Các triệu chứng hoàn toàn vượt ra ngoài sức kiểm soát của người bệnh.

Triệu chứng xảy ra trong cơn kinh hoảng giống triệu chứng của nhiều bệnh thể chất như bệnh tim mạch, bệnh phổi, bệnh thần kinh, bệnh các tuyến nội tiết, … Điều này lại càng làm người bệnh thêm căng thẳng trong cơn kinh hoảng, vì sợ mình đang bị một bệnh thể chất quan trọng, nhiều vị đi khám bác sĩ hoài hoặc thường xuyên chạy vào phòng cấp cứu. Và chẳng trách bác sĩ có thể định lầm là người bệnh bị heart attack (chết cơ tim cấp tính), lên cơn suyễn, … Không ít người bệnh đã đi khám vô số bác sĩ, vào ra phòng cấp cứu, và sau nhiều năm, bệnh mới được tìm ra. Cơn kinh hoảng có khi như từ trên trời rơi xuống, tấn công người bệnh bất ngờ, không báo trước, cũng không do một nguyên nhân chi rõ rệt. Ngược lại, có những cơn kinh hoảng xảy ra trong một hoàn cảnh, hay với một ý nghĩ đặc biệt nào đó. Có người cứ lái xe trên đường lại lên cơn kinh hoảng, đến nỗi sợ không còn dám lái xe đi đâu. Thét rồi, người bệnh cố tránh ngay cả ý nghĩ ra khỏi nhà, vì nhà đã trở thành một tổ ấm an toàn, rời khỏi nó lỡ cơn kinh hoảng đến bất thình lình thì biết làm sao.

Có những cơn kinh hoảng sai ngược hơn, thích đánh thức người ta dậy lúc đang ngủ, để bắt làm bạn với nó một lúc. Chúng cũng dữ dội không kém, khiến người bệnh cứ nghĩ đến việc đi ngủ đâm sợ, hoặc nặng hơn nữa, lên cơn kinh hoảng ngay lúc vào giường, khi nghĩ đến việc mình sắp thiếp ngủ, sắp phải đương đầu với cái cảm giác khủng khiếp mình đã từng bị. Có người nặng đến độ đâm bi quan và thất chí, đi tìm một chỗ yên tĩnh hơn bên kia thế giới, nơi không có bóng dáng của chứng bệnh kinh hoảng.

H:  Những nguyên nhân nào đưa đến chứng bệnh kinh hoàng đột ngột này?

Đ: Nguyên nhân đích thực nào gây ra chứng bệnh lạ lùng này, y học chưa khám phá ra. Nhiều giả thuyết cho rằng bệnh xảy ra do sự làm việc lung tung, lộn xộn của một số vùng đặc biệt trong óc ta, hoặc do sự hoạt động bất thường của các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters) trong óc.

H: Như vậy cách chữa trị chứng bệnh kinh hoàng đột ngột như thế nào?

Đ: Hiện nay chúng ta có nhiều cách trị căn bệnh.

1. Các thuốc an thần Benzodiazepines:

Các thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepines (như Xanax, Valium, Klonopin, Ativan, Serax, …) rất hữu hiệu để chữa bệnh kinh hoảng, dùng ngắn hạn. Thuốc mau chóng làm các triệu chứng thuyên giảm, nhưng có bất lợi là hay gây nghiện. Đang dùng thuốc loại này, nhất là với lượng cao, bạn không nên bất ngờ bỏ thuốc, nếu không có ý kiến của bác sĩ.

Valium, một thuốc an thần benzodiazepines vang bóng một thời, cũng đã từng được dùng để chữa bệnh kinh hoảng. Nhưng Valium nay đã nhường bước trước những đàn em như Xanax, Klonopin, Ativan, những thuốc hiện đang được dùng nhiều để chữa bệnh kinh hoảng.

2. Thuốc chống sầu buồn (antidepressant):

Đây là một nhóm thuốc rất quan trọng. Đầu tiên, người ta tìm ra những thuốc này để chống bệnh sầu buồn (depression). Dùng thuốc lâu, người ta lại khám phá thêm những tài hoa khác của loại thuốc này. Chúng chống được cả các tình trạng căng thẳng tâm thần (anxiety), nhiều tình trạng đau nhức, và nay với bệnh kinh hoảng, chúng cũng trị luôn.

Chúng ít khi gây phản ứng bất lợi, không làm bạn mất sự tự chủ (lose control), cũng không khiến bạn thay đổi tâm tính. Chúng lại không gây ghiền như các thuốc an thần benzodiazepines, nên có thể dùng dài lâu, có khi nhiều năm. 

Hiện có nhiều thuốc thuộc loại này được dùng để chữa bệnh kinh hoảng, xin kể ra đây vài tên thuốc: Tofranil, Elavil, Pamelor, Anafranil, Prozac, Paxil, Venlafaxine, … (thuốc tây không giống “thuốc bắc”, có tên có tuổi đàng hoàng). Có thuốc tác dụng trong vòng vài ngày, có thuốc trong vòng vài tuần. Bạn nên kiên nhẫn.

3. Thuốc monoamine oxidase inhibitors:

Các thuốc thuộc nhóm monoamine oxidase inhibitors cũng rất hữu hiệu, song vì chúng gây nhiều tác dụng phụ, người uống phải kiêng cữ một số thức ăn, tránh dùng một số thuốc khác, do vậy, nay chúng ít được sử dụng để chữa căn bệnh như trước.

4. Tâm lý trị liệu (psychologic therapy):

Nhiều cách tâm lý trị liệu đã được nghiên cứu để chữa bệnh tâm thần kinh hoảng. Các cách tâm lý trị liệu có mục đích soi sáng cho người bệnh biết rõ vấn đề của mình (cognitive therapy), giúp người bệnh từ từ tiếp xúc với những hoàn cảnh hay gây cơn kinh hoảng, rồi giúp họ quen dần với những hoàn cảnh này (exposure and desensitization) là ba phương pháp tâm lý trị liệu cho nhiều kết quả, nếu được dùng phối hợp.

Chữa bằng thuốc giúp người bệnh mau khỏe, triệu chứng nhanh chóng thuyên giảm, tâm lý trị liệu giúp duy trì kết quả của sự chữa trị. Phối hợp cả hai phương pháp chữa trị, thuốc và tâm lý trị liệu, đưa đến kết quả tốt đẹp nhất.

Trong cộng đồng người Việt chúng ta, vấn đề là không có nhiều tâm-lý gia (psychologist) nói tiếng Việt để làm tâm lý trị liệu cho những người bệnh tâm thần.

Sự chữa trị cần được kéo dài bao lâu? Còn tùy căn bệnh. Mục đích của việc chữa trị là làm thế nào để các cơn kinh hoảng không còn trở lại làm phiền ta nữa. Thường các triệu chứng sẽ thuyên giảm, bệnh dần được ổn định trong vòng 4 tháng, và chúng ta tiếp tục uống thuốc ít nhất 1 năm. Có người cần sự chữa trị lâu dài, có khi cả đời.

Bệnh tâm thần kinh hoảng hay xảy ra, gây nhiều phiền toái, tốn kém cho người bệnh và gia đình. Tuy nhiên, sự chữa trị thường rất hữu hiệu, giúp người bệnh trở lại đời sống bình thường, nhất là nếu người bệnh và gia đình cùng hiểu rõ về căn bệnh.

 H: Tôi có một người bạn bị bệnh kéo dài dai dẳng được người nhà đưa đi khám bệnh và bác sĩ chẩn đoán là bệnh rối loạn tâm thần do ám ảnhChứng bệnh này nghe lạ quá. Xin giải thích cho tôi hiểu rõ.

 Đ: Bệnh rối loạn tâm thần do ám ảnh (Obssesive-Compulsive Disorder-OCD) là sự xuất hiện lập đi lập lại những ý nghĩ hoặc hành vi ám ảnh.  Các triệu chứng này rất khó chịu đối với người bệnh, ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày của người bệnh.  Họ nhận thức được sự vô lý của các ý nghĩ và hành vi này, cố gắng tìm mọi cách để chống lại nhưng không có kết quả.

Người bệnh có thể chỉ có ý nghĩ hoặc hành vi ám ảnh nhưng thường thì kết hợp cả hai.

Như vậy rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một chứng rối loạn lo âu dựa trên các ý nghĩ dai dẳng và ám ảnh và/hoặc các hành vi cưỡng chế. Dù người bệnh nhân biết được rằng những ý nghĩ là của mình, nhưng hoàn toàn bất lực trước nó. Tương đương như vậy, hành động cưỡng chế hoặc “nghi lễ” là những hành vi dập khuôn, được lặp đi lặp lại mà không đạt được một mục đích nào cả.

Nỗi ám ảnh thường gặp nhất là sợ nhiễm khuẩn từ đất bụi, vi trùng hoặc dầu mỡ, dẫn đến thói quen tắm rửa cưỡng chế. Một số những ám ảnh khác bao gồm bạo lực, ngăn nắp, bệnh tật, tình dục, sự cân đối và tôn giáo. Một hành động cưỡng chế thường thấy nữa là việc kiểm tra và đo đếm, thường được thực hiện một cách nghi lễ với số lần nhất định mà người bệnh cho rằng “thần kì”. Khoảng 70% bệnh nhân OCD vừa có những ám ảnh vừa có những hành vi cưỡng chế; số bệnh nhân chỉ có những ý nghĩ ám ảnh chiếm khoảng 25%, còn trường hợp chỉ có hành vi cưỡng chế không đi kèm suy nghĩ thì tương đối hiếm.

Cho đến gần đây, OCD hay được coi là một căn bệnh hiếm. Tuy nhiên, một nghiên cứu cộng đồng được hỗ trợ bởi Viện Sức Khỏe Tâm Lý Quốc Gia của Mỹ cho thấy rằng số người mắc chứng OCD lên đến 2% dân số. Một nghiên cứu cộng đồng khác với 3,020 người tại Singapore tuổi từ 13 đến 65 lại báo cáo tỷ lệ căn bệnh này chỉ ở mức 0.3% (Fones, Kua, Ng & Ko 1998). Hơn nữa, căn bệnh này thường bắt đầu vào độ tuổi cuối vị thành niên – đầu trưởng thành, thường diễn biến khó lường và mãn tính. Số phụ nữ bị mắc chứng bệnh này nhiều hơn nam giới một chút.

Trong số 40 bệnh nhân mẫu mắc chứng OCD được điều trị tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Singapore, 22 người là nam, và 80% số người có triệu chứng cả về ám ảnh lẫn hành vi cưỡng chế. Nỗi sợ hãi bị nhiễm khuẩn là điều thường gặp nhất (60%); những chủ đề gây ám ảnh khác bao gồm sự cân đối và hoàn hảo (25%), bạo lực (10%), và tôn giáo (10%). Độ tuổi thường gặp nhất là 15 đến 25 tuổi.

H: Ông bạn bên cạnh nhà tôi bị bệnh dây dưa kéo dài và đi khám bệnh được bác sĩ chẩn đoán là bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế.  Xin bác sĩ cho biết cách chữa trị căn bệnh như thế nào.

Đ: Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD-obsessive-compulsive disorder)) là một hội chứng có hình thức đa dạng và diễn biến khó lường. Nhiều mô hình điều trị đã thành công ở những mức độ nhất định trong việc cải thiện các triệu chứng OCD. Những liệu pháp này bao gồm dược lý trị liệu (pharmacotherapy), điều trị nhận biết hành vi (CBT), liệu pháp sốc điện (electro-convulsive therapy) và phẫu thuật tâm thần (psychosurgery). Thông thường, sử dụng một mình biện pháp trị liệu tâm lý sẽ không có hiệu quả, nhưng sự ủng hộ về mặt tinh thần, tâm lý cho bệnh nhân OCD và gia đình là vô cùng quan trọng

1. Dược lý trị liệu (Pharmacotherapy)

Dược lý trị liệu hỗ trợ các bệnh nhân OCD bằng các loại thuốc chống trầm cảm (Antidepressant), đặc biệt là những thuốc có tác dụng lên hệ thống serotonin. Những thuốc này bao gồm clomipramine (75mg – 200mg), fluoxetine (20mg – 60mg), paroxetine (20mg – 60mg) và sertraline (50mg – 200mg). Những thuốc cân bằng tâm trạng như lithium cũng được sử dụng để tăng hiệu quả của thuốc chống trầm cảm, đặc biệt với những bệnh nhân đồng thời mắc chứng trầm cảm nặng. Đôi khi những thôi thúc, cưỡng chế kì quặc hoặc những ý nghĩ ám ảnh ở bệnh nhân OCD rất gần với bệnh thần kinh (Psychosis). Vì vậy, những thuốc chống thần kinh (Antipsychosis) như haloperidol, trifluoperazine ở liều nhẹ đã được kê đơn cùng với thuốc chống trầm cảm. Benzodiazepines thường chỉ có thể làm giảm bớt hành vi lo âu của bệnh nhân OCD. Hiện tại chỉ có clonazepam là thuốc chứa benzodiazephine duy nhất, được cho thấy có tác dụng chống những ám ảnh.

2. Liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive Behavioural Therapy CBT)

Liệu pháp “tự phơi nhiễm” (Exposure therapy) là phương pháp điều trị hành vi chính thường được sử dụng. Phương pháp này cho bệnh nhân OCD tiếp xúc với các vật thể kích thích sự lo âu, ám ảnh, ví dụ: chạm vào các vật có thể lây nhiễm bệnh như nắm đấm cửa, sàn nhà…vv. Bước sau đó là ngăn chặn hành vi, ví dụ: bệnh nhân tự kiềm chế không rửa bàn tay vừa bị “nhiễm bẩn” của mình. Liệu pháp tự phơi nhiễm thường được thực hiện theo mức độ, cấp bậc tình huống gây sợ hãi.

Liệu pháp Làm mẫu (modelling) yêu cầu bác sĩ trị liệu làm mẫu cách xử lý một tình huống gây sợ hãi mà không thực hiện những hành vi, “nghi lễ” cưỡng chế. Cuối cùng, chuỗi ý nghĩ ám ảnh sẽ bị gián đoạn, từ đó bị ngắt hoàn toàn bằng cách dừng lại những suy nghĩ đó.

Trong các biện pháp trị liệu nhận thức, bệnh nhân được dạy cách đối mặt với thực tế của những điều khiến mình sợ hãi, chỉ ra rằng bệnh nhận đã đánh giá quá cao mức độ nguy hiểm của nó. Hướng suy nghĩ trắng-đen và phóng đại hóa cũng là những yếu tố làm sai lệch nhận thức.

3. Liệu pháp sốc điện (electro-convulsive therapy ECT) và Phẫu thuật tâm lý (Psychosurgery)

Liệu pháp sốc điện (ECT) thường được cho là không hiệu quả đối với bệnh nhân OCD không bị trầm cảm hoặc có ý định tự tử, và phẫu thuật tâm lý (psychosurgery) chỉ nên được áp dụng khi tất cả những biện pháp trị liệu hành vi và dược lý đều thất bại trong việc giảm bớt triệu chứng OCD.

Cho đến thời gian gần đây, Rối loạn ám ảnh cưỡng chế luôn được coi là một trong những hội chứng khó đoán nhất trong các bệnh về rối loạn tâm lý. Bệnh này thường có một quá trình mãn tính và chiều hướng xấu đi, với các triệu chứng tăng giảm thất thường. Tuy nhiên, sự tiến bộ gần đây trong dược lý trị liệu, cũng như các phương pháp điều trị hành vi đã giúp giảm bớt triệu chứng OCD một cách đáng kể với 70% bệnh nhân. Mặc dù số đông bệnh nhân phản ứng tốt với phương pháp điều trị, thường vẫn có một số triệu chứng còn sót lại.

H: Tôi có nghe đến bệnh sợ hãi vô lý.  Xin nói rõ căn bệnh cho tôi biết.  Xin cám ơn.

Đ:  Bệnh sợ hãi vô lý (phobic disorder) là sợ một cách vô lý đưa đến sự tránh né có ý thức những đồ vật hoặc tình huống thường không có tính chất nguy hiểm đối với hầu hết mọi người. Sự sợ này thường gây đau khổ cho người bệnh mặc dù họ vẫn nhận thức được rằng điều đó là không có cơ sở và vô lý.

H: Xin cho biết những loại bệnh sợ hãi vô lý.

Đ: Rất đa dạng. Có tác giả đã kể đến 367 các loại tình huống gây ám ảnh sợ: Sợ chỗ đông người, sợ chỗ kín, sợ khoảng trống, sợ vật nhọn, sợ bẩn, sợ chỗ cao, sợ các con vật như chó mèo, rắn….  Ở đây xin đưa ra một số trường hợp điển hình:

1.Ám ảnh sợ khoảng rộng

Thuật ngữ này được dùng đầu tiên năm 1871 để chỉ những bệnh nhân sợ đi đến nơi công cộng mà không có bạn bè hoặc người thân đi kèm. Hiện nay còn được dùng để chỉ tất cả các ám ảnh sợ như sợ đám đông, sợ ở nhà một mình, sợ vào cửa hàng, sợ đi một mình trên các phương tiện giao thông như tàu hoả, xe buýt, máy bay, qua cầu, đường hầm…ám ảnh sợ khoảng rộng gây nhiều trở ngại nhất cho người bệnh, một số bệnh nhân hầu như không dám ra khỏi nhà.

Hay gặp ở lứa tuổi 15-35. Nữ nhiều hơn nam (3/1).

Có thể kết hợp với hoảng sợ cấp.

2.Ám ảnh sợ xã hội

Là sự sợ dai dẳng các tình thế xã hội như là sợ người khác nhìn mình đưa đến sự tránh né các tình huống này. Có nhiều loại như sợ ăn uống nơi công cộng, sợ phát biểu trước đám đông, sợ gặp người khác giới… thường là các tình huống xã hội ngoài gia đình.

3.Ám ảnh sợ chuyên biệt

Còn gọi là ám ảnh sợ đơn thuần, riêng rẽ hoặc duy nhất. Đây là các ám ảnh sợ chỉ giới hạn vào những tình thế hết sức chuyên biệt như sợ rắn, nhện, chỗ cao, khoảng kín như thang máy, máy bay, sợ côn trùng, sợ máu, vết thương…

Bệnh nhân loại này có thể dễ dàng tránh né hơn hai loại trên.

H:  Hướng điều trị bệnh nhân trên như thế nào?

Đ:Cần có sự chữa trị kết hợp của:

– Điều trị tâm lý: Dùng liệu pháp tâm lý nâng đỡ, trị liệu hành vi, thư giãn.

– Điều trị bằng thuốc: Dùng các thuốc giải lo âu kết hợp với trị liệu tâm lý.

H: Thế nào là bệnh rối loạn tâm thần sau chấn thương?

Đ: Rối loạn tâm thần sau chấn thương hay hậu chấn (Post Traumatic Stress Disorder-PTSD). Đây là một hội chứng (syndrome) tâm lý khi con người trải qua một biến cố hãi hùng có gắn liền với những đe dọa đến tính mạng. Bệnh này cũng có thể xảy ra khi người ta chứng kiến (gián tiếp) một cảnh hãi hùng.

Hội chứng này được biết đến vào thế chiến thứ I qua tên “shell shock”. Những người lính ra trận thấy chết chóc, thân thể các chiến binh bị thương, tay chân bị cắt đứt, máu me lai láng, cảnh tượng rất hãi hùng. Họ có cái may được sống sót nhưng tâm hồn trở nên lơ lơ lửng lửng, từ đó mà bệnh có tên “shell shock” (cú sốc do đạn trái phá).

Hội chứng này được khoa Tâm Thần (psychiatry) hiện đại chia làm 3 nhóm triệu chứng tâm lý chính là: cảm nhận trở lại (reexperience), trốn tránh (avoidance) và nhậy cảm quá độ (increased arousal). Sự hiện diện của 3 nhóm triệu chứng này sau một biến cố là kim chỉ nam của bệnh PTSD.

Cảm nhận lại gồm có: ám ảnh (flashback), nhiều giấc mơ hãi hùng nhắc lại biến cố trải qua, suy nghĩ thật nhiều ngày đêm về biến cố, có cảm giác như biến cố đó lập lại ngay trong hiện tại, suy tầm tài liệu liên quan đến biến cố, phản ứng sinh lý và tâm lý y như lúc biến cố đang xảy ra khi gặp vài nguyên nhân nhắc đến biến cố. Triệu chứng nặng là nghe tiếng nói trong đầu, nghe tiếng ai đó gọi tên mình mà không có ai bên cạnh (auditory hallucination, ảo thính). Nhiều người thấy cái bóng đi qua hay cảm tưởng có ai đứng sau lưng mình (visual hallucination, ảo thị).

Trốn tránh gồm có: cố gắng không suy nghĩ hay đề cập những vấn đề liên quan đến biến cố, tránh xa những nơi có người và cảnh vật nhắc lại biến cố, cảm thấy tình cảm chai đá không hồn nhiên như trước nữa. Còn có nhiều dấu hiệu của những triệu chứng của trầm cảm/depression (không giao thiệp bạn bè, chán ngán, mất sự thích thú trong cuộc sống, mất ăn, mất ngủ, bực bội với người thân trong gia đình, không muốn gần gũi ai).

Nhậy cảm quá độ gồm có: mất ngủ hay ngủ không yên giấc vì ác mộng làm thức giấc giữa đêm, hay giật mình với tiếng động nhỏ, lúc nào cũng có cảm giác đề phòng, hay giận dữ đối với những chuyện không đáng giận, tình cảm khó kềm chế, hay gây gổ. Triệu chứng nặng thì trí nhớ suy sụp, không chú tâm được, mặt mày bơ phờ. Vì hệ thống thần kinh quá nhậy nên những bệnh nhân này hay có những triệu chứng đau nhức thường xuyên. Nhiều bệnh nhân có “cái đau du kích” hôm nay hiện nơi này, ngày mai hiện nơi kia mà khi thử nghiệm đều không có kết quả gì hết. Nhiều bác sĩ không hiểu rõ PTSD nghĩ rằng bệnh nhân đau giả bộ.

H:  Xin bác sĩ đưa ra một trường hợp PTSD điển hình để tôi có thể hiểu rõ về căn bệnh.

Đ: Ông A là một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa có vợ, chưa có con. Khi miền Nam bị mất, ông bị bắt vào tù “cải tạo” gần 6 năm. Khi trình diện với cán bộ cộng sản thì ông được cho biết là chỉ đi “học tập” trong thời gian ngắn mà thôi. Trong tù ông chứng kiến một người bạn thân bị đánh tới chết khi người này tìm cách trốn tù mà không làm gì được để giúp bạn ông. Vợ ông thăm viếng vài năm đầu nhưng sau đó biệt tăm. Khi ra tù ông mới biết là vì hoàn cảnh sống mà vợ ông đã lấy một cán bộ cộng sản. Ông không có nhà phải ở tạm với người cháu và sau đó được Mỹ nhận trong chương trình H.O..

Khi qua Mỹ ông A cố gắng tìm việc làm nhưng bị mất việc nhiều lần vì sơ sót trong việc làm. Ông không tập trung được trong việc làm vì mất ngủ kinh niên. Tối đến là lúc những suy nghĩ tức giận, tủi nhục đến rỉa tâm hồn nhức nhối của ông như bầy muỗi đói. Bên Mỹ, ông hay lủi thủi một mình và xa lánh những đoàn thể vì nó chỉ nhắc lại những kỷ niệm đau buồn. Ông tủi thân vì không có vợ bên mình (phải nói sao với bạn bè?) và tủi nhục vì không cứu được người chiến hữu của ông bị Việt cộng đánh chết, người chiến hữu đã từng chia sẻ cay đắng ngọt bùi với ông trong chiến trận. Cái cảnh anh ta chết tức tưởi trên vũng máu và tiếng bá súng nện vào người anh ta cứ trở lại ám ảnh ông những đêm không ngủ được.

Từ ngày mất việc lần thứ 3 này, ông cảm thấy chán chường và muốn quên đời trong rượu chè và khói thuốc. Những cơn nhức đầu như búa bổ xảy ra thường xuyên hơn. Những vết thương bị đạn thời chiến hình như sống dậy và làm cơ thể ông đau nhức khó chịu. Ông đến bác sĩ gia đình trị bệnh đau nhức. Ông được cho biết là bị cao áp huyết (hypertension). Bác sĩ cho ông thuốc nhức đầu và cao áp huyết. Những cơn đau nhức không bớt một cách đáng kể mặc dù thử nghiệm không có dấu hiệu bệnh gì. Áp suất máu không giảm như ý muốn bác sĩ. Bác sĩ gia đình cho đủ thuốc ngủ mà giấc ngủ vẫn không đến.

Khi ông tỏ ý chán chường đến “không muốn sống”, bác sĩ gia đình giới thiệu ông đến chuyên khoa Tâm Thần.

H: Xin cho biết bệnh rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD) đối với văn hóa Đông phương như thế nào?

Đ: Người Á châu rất sợ bệnh “điên” nên khi đi khám bác sĩ ít khi khai hết những triệu chứng tâm lý. Có thể nói đến hơn 90% những người bệnh tâm thần Á châu lần đầu tiên đi khám bác sĩ không khai triệu chứng tâm thần.

Người Á châu rất sợ “mất mặt” nên không dám khai triệu chứng bệnh tâm thần. Một số bệnh tâm thần được đem ra ánh sáng là do người thân không chịu nổi nữa dẫn bệnh nhân đi khám hay buộc bệnh nhân phải đi khám. Ít có ai tự động đến khám bác sĩ khi bắt đầu có những triệu chứng tâm thần.

Những triệu chứng này lúc mới nảy sanh chỉ ảnh hưởng qua thái độ bệnh nhân (bực bội, buồn chán, …). Khi để lâu vài năm sẽ nặng hơn và lan ra hành động bất thường không kềm chế được (đập phá đồ đạc hay đánh đập vợ con).

Những triệu chứng bác sĩ gia đình thường nghe nhứt ở những người bệnh tâm thần Á châu là: mất ngủ kinh niên, nhức đầu kinh niên, đau nhức “du kích” như kể trên. Họ còn than phiền “hay quên” trong lúc tuổi đời còn tương đối trẻ. Bác sĩ gia đình tốn rất nhiều công sức tìm tòi những bệnh từ đa dạng đến hiếm, cho thử nghiệm đủ cách nhưng đa số thử nghiệm không có kết quả đáng kể. Khi được bác sĩ đề nghị họ tham khảo chuyên viên tâm thần đôi khi họ còn giận bác sĩ họ và giẫy nẩy, “tôi đâu có điên đâu mà bác sĩ kêu tôi đi khám bác sĩ tâm thần”.

Những bệnh nhân này thường rất nhậy cảm với phản ứng phụ của thuốc vì hệ thống thần kinh họ bị căng thẳng. Một chút khó chịu trong cơ thể được nhân lên gấp bội. Vì thế, họ ít khi uống thuốc đều hay tự ý giảm liều thuốc bác sĩ cho nhưng không dám nói bác sĩ biết. Vì thế mà hiệu quả (outcome) trị liệu rất thấp nếu bác sĩ không đề cập đến triệu chứng tâm lý.

Một phần nữa là gia đình bệnh nhân theo văn hóa Đông phương không chấp nhận trị liệu bằng thuốc Tây một cách lâu dài. Đa số bệnh tâm thần khi được phát hiện đã trở thành bệnh kinh niên cần trị liệu lâu dài. Khi nghe bệnh nhân than bị phản ứng phụ thì gia đình khuyên nên ngừng thuốc Tây lại và nên trị bằng dược thảo. Hiện nay chưa có loại dược thảo nào trị được các bệnh tâm thần loại nặng một cách hữu hiệu.

H: Như vậy rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD) đối với phân tâm học như thế nào? Xin giải thích để được hiểu rõ.

Đ: Những người chứng kiến những hoàn cảnh khủng bố mà họ không làm gì được thường có hội chứng PTSD không nhiều thì ít. Không phải chỉ có chiến tranh mới gây ra PTSD mà những phụ nữ bị hãm hiếp, những công nhân bị ức hiếp trong sở lâu ngày cũng bị bệnh này nữa.

Đa số thuyền nhân Việt Nam đều có ít nhiều triệu chứng PTSD. Có người bị bệnh dạng nhẹ vẫn làm việc được. Tuy nhiên hệ thống thần kinh của họ nhậy cảm và họ dễ bị buồn phiền trong sở làm hay chuyện gia đình con cái. Họ có thể chịu đựng một thời gian đến khi có một biến cố thứ nhì xảy ra như mất việc, người thân bệnh nặng hay bị tai nạn thì những hội chứng PTSD xảy ra mãnh liệt. Bác sĩ tâm thần ngoại quốc không hiểu rõ hoàn cảnh bệnh nhân, dễ chẩn bệnh lầm hoặc cho rằng người bệnh phản ứng quá đáng hay giả bộ bệnh để được quyền lợi này nọ (secondary gain).

Người bệnh PTSD rất dễ giận dữ nên gia đình và bạn bè hay xa lánh. Nỗi căm hận chất chứa trong lòng lâu ngày tạo căng thẳng tinh thần. Khó có gì làm họ vui được. Họ có những suy nghĩ thường gắn liền với biến cố đã qua. Họ muốn diệt trừ kẻ gây ra khủng hoảng cho họ trong quá khứ, nhưng lúc đó họ không làm gì được nên nỗi bực tức lan tràn ra mọi người bây giờ. Bệnh nhân dễ bị nghiện thuốc lá và rượu vì dùng những chất đó tạo các sảng khoái tâm lý nhứt thời, nhưng dùng dài hạn những chất trên lại tạo ra bệnh nghiện và nhiều bệnh thể xác sau đó.

Người bệnh PTSD hay bị tủi nhục (shame). Sách phân tâm học ngoại quốc thường dùng chữ “guilt” và “shame” lẫn lộn. “Guilt” là cảm giác tội lỗi khi người đó làm việc gì sai trái, ngược lại “shame” là cảm giác tủi nhục khi người đó muốn làm việc theo lương tâm họ mà hoàn cảnh không cho làm vậy được. Thí dụ như người sĩ quan trong câu chuyện kể trên muốn ra tay cứu người bạn thân, chiến hữu của ông, khi chứng kiến cảnh những bá súng của cán bộ cộng sản nện lên đầu người đó, nhưng vì sự sống còn của mình nên không làm gì được. Ngoài ra ông bị tủi nhục vì xã hội cộng sản không cho ông chỗ đứng để có một nghề làm ra tiền khi xuất trại. Ông còn bị tủi nhục khi thất thế bị vợ bỏ. Khi qua Mỹ ông bị tủi nhục vì bị đuổi việc nhiều lần, đầu óc hay quên không học được tiếng Mỹ để hòa đồng và thành công trong xã hội, như bạn bè ông sang đây trước qua cuộc di tản 1975.

Những tình cảm “xấu” như giận dữ, tủi phận, tủi nhục, nghiện rượu thật khó mà khai với bác sĩ. Vì thế mà những bệnh nhân này đành âm thầm nuốt lấy những nỗi khổ cho qua ngày tháng. Nếu họ có khai với bác sĩ thì chỉ khai những triệu chứng thông thường như mất ngủ, hay quên, đau nhức, …

 H- Nguyên nhân thần kinh của bệnh rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD).

Đ- Khi bị căng thẳng ngắn hạn, cơ thể ta tiết ra chất Norepinephrine (NE). Chất này là chất hưng phấn nhiều hệ thống trong cơ thể. Ở hệ thống tuần hoàn nó làm áp suất tăng, tim đập nhanh hơn, ở hệ thống hô hấp nó làm tăng hơi thở, ở da thì làm mấy mạch máu nhỏ co lại tạo cảm giác lạnh tay chân hay cảm giác tê. Khi không đủ máu tới các bắp thịt trong thời gian lâu sẽ bị đau nhức hay có cảm giác mỏi. Ở hệ thống tiêu hóa làm cho ta biếng ăn. Hệ thống thần kinh kích thích nhiều làm mất ngủ. Những thay đổi trên giúp ta chiến đấu với hoàn cảnh nguy hiểm.

Khi NE bài tiết nhiều thì nó có thể làm giảm lượng Serotonin (5HT). Serotonin là một chất tiết ra trong não bộ làm cho cường độ những phản ứng tình cảm bớt lại. Khi thiếu 5HT thì những tình cảm như giận, lo âu sẽ diễn ra rất mạnh và rất khó kềm chế.

Khi căng thẳng quá độ lâu ngày, hệ thống kích thích tố (hormone) sẽ bị thay đổi. Lượng cortisol sẽ tăng lên trong máu. Cortisol có công dụng làm giảm viêm (inflammation). Tuy nhiên nếu cortisol tiết ra nhiều quá thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến não bộ. Nó có thể làm tổn thương các tế bào ở não bộ. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nhóm tế bào hippocampus bị thoái hóa và khi chụp MRI thấy bị nhỏ hơn bình thường. Nhóm tế bào này ảnh hưởng trí nhớ. Nhóm tế bào này cũng bị thoái hóa ở chứng bệnh lú lẫn Alzheimer. Hippocampus giúp trí nhớ ngắn hạn (short term memory). Hippocampus bị tổn thương gây ra hiện tượng mau quên.

Cortisol còn ảnh hưởng đến những triệu chứng tâm thần. Những người bệnh chai gan trị bằng cortisol hay bị trầm cảm, tình cảm lên xuống bất thường và trong trường hợp nặng bị mất khả năng nhận ra thực tế (psychosis), như có ảo thính (auditory hallucination) hoặc ảo thị (visual hallucination). Những hiện tượng tâm thần do cortisol mất điều hòa có nhiều trùng hợp với những triệu chứng của PTSD.

Như thế cái tên gọi “bệnh tâm thần” là một sai lầm làm cho bệnh nhân tưởng như những triệu chứng họ có không có nguồn gốc vật chất. Đúng ra, đa số những bệnh tâm thần là những bệnh của não bộ. Não bộ có những vùng ảnh hưởng đến cơ thể như vùng cơ động (motor area) và vùng giác quan (sensory area) cũng như có những vùng ảnh hưởng đến tánh tình và hành động. Khi những vùng ảnh hưởng đến tánh tình bị bất ổn thì gây ra triệu chứng tâm thần.

H: Xin cho biết các phương cách trị liệu bệnh rối loạn tâm thần hậu chấn.

Đ: Như đã phân tích ở trên, bệnh PTSD có ảnh hưởng rất sâu rộng từ sinh lý não bộ, đến tâm lý và cuộc sống gia đình và xã hội. Muốn trị bệnh hữu hiệu ta phải áp dụng nhiều hơn một cách trị liệu, gồm thuốc men, tâm lý trị liệu (psychotherapy), gia đình trị liệu (family therapy), và ngay cả áp dụng tôn giáo trong cách trị liệu.

Về thuốc thì có nhóm thuốc SSRI (Selective Serotonin Reuptake Inhibitor) được cơ quan dược thực phẩm (FDA) công nhận để trị bệnh này. Chất thuốc này dùng để tăng lượng Serotonin (5HT). Khi 5HT tăng thì cường độ các triệu chứng tâm thần được giảm bớt. Tuy nhiên nếu bệnh hiện diện lâu ngày ảnh hưởng qua hệ thống cortisol thì trị liệu bớt hữu hiệu. Nhiều khi cần phải dùng nhiều loại thuốc phối hợp mới có kết quả.

Môn tâm lý trị liệu đang phổ biến bây giờ là Cognitive Behavioral Therapy (CBT): bệnh nhân tập nhận ra những tư tưởng bi quan và tập suy nghĩ sao cho thích hợp hơn với hoàn cảnh. Khi có những xung đột gia đình thì cần phải có gia đình trị liệu để hàn gắn lại những mâu thuẫn vợ chồng, con cái. Gia đình trị liệu giúp những thành viên trong gia đình thông cảm lẫn nhau và đối thoại một cách hiệu quả.

Tôn giáo cũng đóng một phần không kém quan trọng trọng việc trị liệu. Tôn giáo tạo một đoàn thể hỗ trợ tinh thần bệnh nhân. Khác với xã hội, tôn giáo chấp nhận con người không kể sự thành công hay vị trí xã hội của người đó, như thế một phần nào xoa dịu được nỗi khổ của sự tủi nhục. Tôn giáo giúp người bệnh PTSD từ bỏ quá khứ và cấy niềm hy vọng tương lai trong tâm hồn họ. Các tôn giáo đều có những phương pháp chống lo âu (anti anxiety). Thiền của Phật giáo bắt đầu được áp dụng trong cách trị liệu y khoa với cái tên là Mindful therapy. Ngoài ra cầu nguyện Chúa, lần chuỗi, niệm Phật, … cũng có những hiệu nghiệm không kém, tùy theo sở thích và tôn giáo của người bệnh.

H:Những năm gần đây, khi ra hải ngoại, tôi có nghe bệnh tự kỷ.  Tôi chưa biết bệnh này.  Xin giải thích cho tôi rõ.  Xin cám ơn.

Đ:Bệnh tự kỷ được dịch từ chữ autism, là một bệnh có căn nguyên do sự phát triển không bình thường của não bộ, trong quá trình phát triển khi còn ở tình trạng thai, khi sinh hoặc năm đầu tiên của đời sống.  Theo các nhà nghiên cứu về khoa thần kinh học thì trong tháng cuối trước khi sinh, đã có sự thanh lọc loại ra khỏi não thai nhi những tế bào não không cần thiết.  Bệnh tự kỷ là hậu quả của một sự thanh lọc thiếu hoàn chỉnh.  Trẻ bị bệnh không phát triển trong sự giao tiếp xã hội, có một số đặc tính khác biệt mà không bao giờ thay đổi.  Trí tuệ chậm phát triển, và cần được chăm sóc suốt đời.  Chẩn đoán bệnh rất khó, vì không có các thử nghiệm đặc hiệu.  Làm CT scan não đôi khi thấy sự bất thường nhưng không đặc hiệu.   Làm não điện đồ (EEG) cũng không thấy gì đặc biệt, ngoại trừ những trẻ bị chứng động kinh (30% trẻ bị autism bị bệnh động kinh (epilepsy).

H:Những  nguyên nhân nào có thể đưa dến bệnh tự kỷ?

Đ: Các nghiên cứu hiện nay đều chưa dám khẳng định nguyên nhân chính xác của chứng tự kỷ. Có một số bằng chứng cho thấy tự kỷ có nguyên nhân từ các yếu tố sinh học hoặc môi trường, bệnh lý hoặc do tất cả. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa xác định được nguyên nhân chủ yếu và cơ chế nào nào gây bệnh.

– Di truyền: Theo các nghiên cứu y học cho thấy 90% trẻ mắc bệnh tự kỷ là do di truyền. Tuy nhiên, đến nay, các nhà nghiên cứu chưa xác định được gen nào là gen gây ra chứng này.

– Nhiễm trung khi mang thai: Trong quá trình mang thai người mẹ mắc bệnh cúm, rubella … có nguy cơ cao khiến thai nhi bị dị dạng mà còn khiến trẻ có nguy cơ mắc bệnh tự kỷ.

Đái tháo đường: Các nghiên cứu tổng hợp đã chứng minh rằng, những người mẹ mắc bệnh đái tháo đường khi mang thai sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh tự kỷ.

– Người mẹ sử dụng thuốc không theo chỉ định của bác sĩ: Như thuốc an thần, valproic acid  hoặc thuốc điều trị dạ dày, tá tràng, viêm khớp…đều khiến thai nhi dễ mắc bệnh tự kỷ sau khi chào đời.

 – Thuốc trừ sâu: Nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học tại California cho thấy, 7% trường hợp bị tự kỷ ở California là do thuốc trừ sâu. Mặt dù vẫn chưa xác định được loại thuốc trừ sâu nào gây quái thai ở người.

– Gặp vấn đề về tuyến giáp: Vấn đề về tuyến giáp là do sự thiếu hụt thyroxin của người mẹ trong tuần 812 của kỳ thai nghén được công nhận là sản sinh ra những thay đổi trong não thai nhi dẫn tới tự kỷ.

– Tâm trạng người mẹ: Sự căng thẳng, đau buồn của người mẹ khi mang thai có thể làm rối loạn sự phát trển của não thai nhi có thể khiến trẻ bị mắc bệnh tự kỷ.

Nhiều chứng minh cho thấy trẻ bị thiếu sự quan tâm của cha mẹ, hay bị có cảm giác cô đơn, hoặc hay nghe nhạc vàng buồn u sầu ảo não thì cũng dễ bị mắc bệnh tự kỷ.

H:  Những nguy cơ nào đưa đến bệnh tự kỷ?

Đ:Những nguy cơ có thể đưa đến bệnh tự kỷ:

1-Về giới tính: theo kết quả của những thống kê cho biết các bé trai bị bệnh tự kỷ gấp 4 lần các bé gái;

2-Bệnh sử gia đình: nếu gia đình nào đã có một bé bệnh tự kỷ thì gia đình ấy có nguy cơ cao một bé bị bệnh tự kỷ;

 3- Những rối loạn khác: hội chứng Rett, bệnh fragile X, bướu lành trong não (tuberous sclerosis); 

4- Những bé sinh ra trước 26 tuần của thai kỳ có nguy cơ cao bệnh tự kỷ;

5- Những bé sanh ra từ các sản phụ lớn tuổi.  

H: Những dấu chứng nào cho ta biết là cháu bé bị bệnh tự kỷ? 

Đ: Cha mẹ hay người lớn trong gia đình em bé không biết cháu bé mắc bệnh tự kỷ, chỉ khi đã được khoảng 1 tuổi.

– Về ngôn ngữ thoại: Không biết nói tiếng gió khi đã 1 tuổi. Không nói được từ đơn khi đã 16 tháng. Không nói được từ đôi khi đã 2 tuổi. Nói khó khăn hoặc rất ghét nói. Đã nói được nhưng có thể mất ngôn ngữ bất cứ lúc nào. Có khi bé nói suôn sẻ nhưng nội dung không liên quan gì đến môi trường hoàn cảnh xung quanh. Thích độc thoại mà không đối thoại.

– Không chấp nhận sự giao tiếp, kết bạn.

– Sự tập trung chú ý cực kỳ ngắn hoặc không có.

– Không hồi đáp khi được gọi tên.

– Có những hành vi kỳ quái như tự đập đầu, cào cấu, đánh, nói nhảm và hành hạ người thân, muốn ở một mình.

– Rất ít hoặc không giao lưu bằng mắt.

– Thường lặp đi lặp lại một số hành vi hoặc cử động cơ thể nhất định nào đó.

– Bị hút chặt vào một vài đồ vật quen thuộc.

– Thường xuyên ăn vạ.

– Sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ.

– Từ chối quyết liệt một cách bất thường khi phải thay đổi thói quen sinh hoạt hoặc những điều quen thuộc hằng ngày.

– Nhạy cảm với một số âm thanh, cảm giác hoặc một số mùi nào đó.

– Không có khả năng tổng hợp, khái quát thông tin nhận được.

– Rối loạn ăn uống, tiêu hóa.

Khi ở bé xuất hiện khoảng 35% trở lên các triệu chứng nêu trên là bé đã là bệnh nhân tự kỷ.    Một thống kê cho biết 30% trẻ bị autism bị bệnh động kinh (epilepsy).  Không có thuốc chữa trị.  Các em bị bệnh cần được học tại các trường lớp đặc biệt để có thể phát triển và phải được chăm sóc cẩn thận.

H– Tại sao người ta bị nghiện thuốc?

Đ- Có rất nhiều con đường dẫn đến nghiện thuốc (drug abuse).

1-                Nhiều người bị nghiện thuốc do ngẫu nhiên. Thí dụ như họ đi dự tiệc và bạn bè rủ

rê uống rượu, hút thuốc và dùng những loại thuốc kích thích. Khi thử qua, được hưởng cái cảm giác lâng lâng thì họ rất thích thú và muốn tìm lại cảm giác đó bằng cách lạm dụng những hóa chất làm nghiện.

2-                Một số người khác do bị căng thẳng tinh thần nên dùng những hóa chất để giải

sầu. Dần dần sẽ trở thành thói quen và họ lún sâu vào con đường nghiện ngập.

3-                Một số khác bị đau nhức, bác sĩ cho toa thuốc giảm đau có chất á phiện (opiates).

Khi thuốc bị lờn, họ tự động tăng liều rồi sẽ bị nghiện.

H:  Những loại thuốc làm nghiện ảnh hưởng trên não bộ như thế nào?

Đ: Hai loại hóa chất chính trong não bộ ảnh hưởng đến nghiện là chất dopamine và chất opiates. Chất dopamine là chất làm cho chúng ta có cảm giác sung sướng, và khi nó được tiết ra nhiều sẽ tạo cảm giác cực khoái. Trên phương diện sinh lý thì chất dopamine được gắn liền đến những hoạt động duy trì sự sống, như ăn uống và hoạt động tình dục. Những chất nghiện thuộc nhóm kích thích (stimulant) như cocaine, amphetamine, extasy làm tăng dopamine gấp bội so với những sinh hoạt bình thường như ăn uống chẳng hạn.

Khi dopamine tràn ngập não bộ thì sẽ tạo ra cảm giác khoái lạc. Có những thí nghiệm cho thấy rằng những con chuột bị nghiện cocaine sẽ bỏ ăn bỏ uống, không chú ý đến những con chuột khác phái. Chúng liên tục dùng cocaine cho đến khi chết đói.

Loài người cũng có phản ứng tương tự. Những người nghiện có thể liên tục dùng hóa chất cả ngày, bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ bê công việc và gia đình. Trong cơn nghiện, họ mất khả năng suy nghĩ chín chắn và không ý thức được hậu quả của việc nghiện. Khi chụp hình fMRI não bộ thì thùy trán (frontal lobe) hoạt động rất kém ở người nghiện. Công dụng của thùy trán giúp chúng ta phân tích và quyết định (analytic and executive ability). Như thế khi bị dính vào cơn nghiện rồi thì ý chí bị suy nhược đáng kể nên người nghiện trở thành nô lệ cho hóa chất.

Chất opiates là những hóa chất thuộc loại thuốc phiện làm giảm đau. Trong thiên nhiên khi ta bị thương thì não bộ ta tiết ra chất opiate để giảm đau. Hiện nay có rất nhiều người bị nghiện opiates. Một số do bác sĩ viết toa trị cơn đau nhức (như Oxycodone, MS Contin), bịnh nhân vô tình dùng quá liều và bị nghiện. Một số khác bị nghiện do bạn bè quyến rũ lạm dụng thuốc giảm đau để có cảm giác lâng lâng. Khi lạm dụng hóa chất này và bị nghiện rồi, bỏ thuốc rất là khó vì triệu chứng thiếu thuốc (withdrawal symptoms) làm đau nhức, ói mửa, tiêu chảy rất khó chịu, tưởng như là có thể chết được.

Những người bị nghiện kể lại rằng khi lạm dụng chất làm nghiện thì họ cảm thấy rất tự tin, mọi sự lo lắng đều biến mất. Họ có cảm giác khoái lạc (do dopamine tăng) và những vấn đề gây căng thẳng bây giờ không có nghĩa lý gì (do opiates tăng). Vì ham được sống trong cảm giác lâng lâng đó, họ tự khóa chặt vào thế giới nghiện và dần dần cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài. Họ có ảo tưởng rằng mình có quyền lực phi thường và tưởng như có thể làm được mọi việc phi thường.

H: Xin cho biết những giai đoạn của sự nghiện ngập.

Đ: Giai đoạn đầu là con đường đến khoái lạc. Vì não bộ còn nhậy cảm nên người nghiện dễ đạt đến khoái lạc. Vì lòng tham, người nghiện muốn hưởng nhiều khoái lạc mà không tự kềm chế được nên gây nhiều phiền toái cho bản thân, gia đình và xã hội. Đây là giai đoạn lạm dụng thuốc (drug abuse).

 Một thời gian sau, não bộ sẽ lờn thuốc (tolerance). Những tế bào thần kinh đáp ứng với thuốc nghiện và tạo ra ít “receptors”, là những bộ phận giúp tế bào hấp thụ chất dopamine. Đối với tế bào thần kinh thì hiện thời dopamine quá dư thừa nên không cần tạo receptors để nhận vào thêm nữa. Hiện tượng lờn thuốc bắt đầu.

Giai đoạn sau là giai đoạn mất tự chủ, làm nô lệ cho cơn nghiện (drug dependence). Tế bào thần kinh (neurones) đáp ứng với sự dư thừa dopamine. Đến giai đoạn này thì người nghiện cần phải dùng một số lượng rất lớn thuốc nghiện mới đạt được cơn khoái lạc. Những cơn khoái lạc càng hiếm dần. Họ cần có thuốc nghiện hàng ngày để sinh hoạt bình thường. Khi thiếu thuốc nghiện thì họ trải qua cơn thiếu thuốc rất khó chịu. Cơn thiếu rượu sẽ làm chân tay người nghiện run rẩy, họ bực bội, cau có, lo âu, nặng hơn có thể bị kinh phong. Cơn thiếu opiate (thuốc phiện) làm cơ thể đau nhức, buồn nôn, tiêu chảy, người xuất mồ hôi rất khó chịu.

H:  Khi một người đã bị nghiện rồi thì sự nghiện ngập ảnh hưởng thế nào đến quan hệ những người chung quanh?

Đ: Mục đích tự nhiên của dopamine là khuyến khích con người có quan hệ với nhau. Lần đầu tiên trong đời, đứa bé cảm nhận sung sướng (dopamine tăng) khi nó bú sữa mẹ. Sung sướng đó làm tăng tình mẹ con. Khi lớn lên đứa trẻ vị thành niên nam cảm thấy thích thú khi liếc nhìn ngực phụ nữ (dopamine tăng). Quan hệ nam nữ bắt đầu từ sự thích thú khi nhìn người khác phái. Khác với quan hệ thuần sinh lý, trong quan hệ tình yêu, con người tập dần, lột bỏ những ích kỷ cá nhân để duy trì quan hệ. Đó cũng là những bước đầu của cuộc sống gia đình và xã hội. Nền tảng của xã hội cần những quan hệ vững chắc và khả năng hoãn lại sự thỏa mãn cá nhân (delayed gratification).

Người bị nghiện đi ngược chiều sự phát triển kể trên. Khi nghiện thuốc, họ bỏ bê những quan hệ gia đình và xã hội. Họ hoàn toàn chú trọng đến sự khoái lạc cá nhân. Họ tìm đủ mọi cách để mua được thuốc làm nghiện, thậm chí trộm cắp tiền của người thân để mua thuốc nghiện. Bạo hành gia đình rất dễ xảy ra. Họ có thể vào tiệm ăn cắp đồ đạc, từ đó ra vào khám là chuyện thường ngày. Từ một người mẫu mực, người nghiện thay đổi tính tình và trở thành một thành viên xấu trong gia đình và xã hội.

H:  Khi đã bị cơn nghiện rồi thì làm sao thoát khỏi cơn nghiện?

Đ: Trước khi nghiện thì con người có sự chọn lựa. Nhưng sau khi nghiện rồi thì họ làm nô lệ cho hóa chất nghiện. Sự hành hạ thể xác và tâm hồn của cơn thiếu thuốc tước đoạt quyền chọn lựa. Người đó chỉ còn một cách là tìm hóa chất nghiện bằng mọi giá. Não bộ của người nghiện bị thay đổi làm họ mất khả năng điều khiển ý chí và mất khả năng suy nghĩ chín chắn. Những suy nghĩ và thái độ của họ chỉ xoay chung quanh việc tìm cho được hóa chất để thỏa mãn cơn nghiện. Vì thế tự bỏ thuốc nghiện là việc rất khó. Đa số người nghiện sẽ trở lại con đường nghiện trong một thời gian ngắn.

Những người đó cần phải đến những cơ quan y tế để cai thuốc.  Gần đây ta có nhiều loại thuốc cai nghiện. Những loại thuốc này tác động lên não bộ làm giảm cơn thèm thuốc và giúp người nghiện bỏ thuốc. Thuốc Campral được dùng làm giảm sự khó chịu của cơ thể khi thiếu rượu. Naltrexone tác động lên hệ thống opiate (opiate antagonist) của não bộ làm giảm cảm giác khoái lạc khi người nghiện rượu uống rượu, khiến họ bỏ rượu dễ hơn. Suboxone được dùng để cai thuốc phiện. Thuốc này điều hòa hệ thống opiate làm giảm cơn thèm thuốc.

Một số người bị bệnh trầm cảm hay lo âu, họ không nhận ra triệu chứng bệnh tâm thần và dùng những loại thuốc nghiện để tự trị cho họ. Rất đáng tiếc là thuốc làm nghiện lại làm những bệnh tâm thần nặng hơn. Những người bị nghiện khó có được giấc ngủ ngon do lạm dụng thuốc nghiện vì thuốc làm mất sự điều hòa những hóa chất tự nhiên trong não bộ. Mất ngủ kinh niên sẽ làm những triệu chứng bệnh tâm thần nặng hơn. Nhưng bệnh tâm thần kể trên cần được điều trị đúng mức để bệnh nhân không trở lại dùng thuốc nghiện.

Những nghiên cứu mới đây cho thấy muốn cai thuốc nghiện cần phải uống thuốc kèm theo với tâm lý trị liệu chuyên về cai nghiện. Thí dụ như phải trở thành thành viên của Alcohol Anonymous (AA) và áp dụng 12 bước tiến (12 steps) hoặc phải áp dụng Cognitive Behavioral Therapy (trị liệu giúp thay đổi nhận thức). Một số lớn người bị nghiện do căng thẳng tâm lý, do không đáp ứng được với hoàn cảnh gia đình hay xã hội nên tìm lối thoát qua chất nghiện. Nếu không học hỏi được những phương pháp đối phó hiệu quả với hoàn cảnh căng thẳng thì khi bỏ thuốc tạo nghiện, những căng thẳng sẽ trở lại và sẽ thúc đẩy họ trở lại dùng thuốc nghiện.

H:  Xin cho biết những phương pháp mới trị bệnh nghiện thuốc.

Đ: Ngoài những phương pháp trị bệnh nghiện kể trên, Brookside Institute là nơi đầu tiên trên nước Mỹ dùng phương pháp từ trường, Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation (rTMS), còn gọi là Magno EEG Resonant Therapy (MERT) để trị bệnh nghiện. Nghiên cứu quantitative EEG (qEEG) cho thấy ở những người nghiện thuốc, tần số Alpha ở những vùng trong não bộ không hoạt động đồng bộ với nhau (not synchronized). Từ đó sanh ra căng thẳng, lo âu và mất sáng suốt. Bệnh nhân còn bị mất ngủ kinh niên nếu nhiều vùng trong não bộ hoạt động ở tần số cao Beta. Khi não bộ hoạt động ở tần số này thì bệnh nhân không có khả năng dừng những suy nghĩ lăng xăng tạo lo lắng.

Khi não bộ được kích thích bằng từ trường ở tần số Alpha đặc trưng của từng bệnh nhân thì những vùng trong não bộ sẽ dần dần hoạt động đồng bộ trở lại. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là khi ta tập thiền, tâm thanh tịnh trong thức tỉnh thì não bộ của ta hoạt động đồng bộ ở tần số Alpha. Tần số này tạo cảm giác thư giãn và tinh thần tỉnh táo sáng suốt.

Ở những người có não bộ hoạt động không đồng bộ thì khi được kích thích ở một tần số Alpha nhất định thì một thời gian sau, khi đo lại qEEG cho thấy những tế bào thần kinh bắt đầu rung động theo nhịp Alpha đó. Cũng như ca sĩ hát theo nhịp của tiếng trống. Những nghiên cứu SPECT mới nhất cho thấy khi não bộ được kích thích qua từ điện thì máu dồn về thùy trán, tăng khả năng làm chủ tình cảm.

Ngoài ra nơi đây còn dùng phương pháp reference EEG (rEEG) để tiên đoán bệnh nhân sẽ phản ứng như thế nào với các loại thuốc tâm thần. Khác với loại thuốc dùng cho thể xác, bệnh nhân tâm thần có những phản ứng khác nhau cho những thuốc tâm thần cùng một nhóm. Đôi khi bác sĩ phải thay đổi tới 2, 3 thuốc khác nhau mới tìm được thuốc tốt.

Phương pháp này so sánh những đặc trưng (bio marker) của EEG của bệnh nhân với hàng ngàn EEG khác. Khi bio marker của bệnh nhân tương ứng (match) với EEG nhóm người đã phản ứng tốt với một loại thuốc tâm thần nào đó, thì xác suất bệnh nhân phản ứng tốt với loại thuốc đó sẽ cao hơn. Phương pháp này có khả năng chọn lọc đúng thuốc và rút ngắn được thời gian thử hết thuốc này tới thuốc kia.

Khi chọn thuốc đúng và kết hợp với rTMS thì thời gian bệnh nhân phản ứng tốt với thuốc sẽ được rút ngắn khá nhiều. Ngoài ra, khi các phần của não bộ hoạt động đồng bộ rồi thì bệnh nhân sẽ không cần liều thuốc cao, do đó phản ứng phụ sẽ tối thiểu.

 Những nghiên cứu mới đây cho thấy nghiện thuốc tạo ra những thay đổi đáng kể trong não bộ. Cũng như bệnh tâm thần, nghiện thuốc là một bệnh của não bộ vì nó làm xáo trộn rất nhiều hóa chất trong não bộ và thay đổi hoạt động của não bộ. Bệnh nghiện cần được điều trị bằng thuốc, rTMS và tâm lý trị liệu.

H: Xin giải thích tại sao có nhiều người bị nghiện rượu?

 Đ:  Chứng nghiện rượu là một bệnh nghiện mãn tính. Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 liệt chứng nghiện rượu vào loại “rối loạn hành vi và tâm thần do sử dụng các chất tác động tâm thần“. Chất gây ra là rượu, chính xác hơn là êtanol hình thành khi lên men rượu.

Chứng nghiện rượu có thể bắt đầu ngay khi uống đều đặn một lượng nhỏ. Không phải lúc nào người nghiện rượu cũng ở trong trạng thái say sưa. Chứng nghiện rượu diễn tiến một cách tương đối chậm chạp và khó nhận thấy. Những người mang chứng bệnh này thường không ý thức được tính nghiêm trọng của chứng bệnh. Uống quá nhiều rượu là nguyên nhân gây ra các bệnh cơ thể và tâm thần trầm trọng và lâu dài khác (xơ gan, nhồi máu cơ tim, mất trí nhớ…).

Vì tiềm năng gây nghiện của rượu rất lớn nên khả năng điều trị duy nhất là từ bỏ một cách triệt để các thức uống, món ăn hay thuốc uống có cồn. Để đạt đến mục đích này các biện pháp điều trị tâm lý là không thể bỏ qua được.

HXin cho biết mức độ phổ biến những người nghiện rượu như thế nào?

Đ:  Sự phổ biến cũng như các hậu quả của chứng nghiện rượu thường được coi nhẹ. Theo đánh giá mới đây, ở Đức có 4,3 triệu người nghiện rượu, trong đó 30% là phụ nữ. Thêm vào đó là khoảng 5 triệu người uống rượu ở mức độ nguy hiểm (có thể nghiện). Tổng cục Thống kê Đức đã ghi nhận trong năm 2000 có 16.000 người chết vì uống rượu, trong số đó có 9.550 trường hợp chết là do xơ gan. Thậm chí vào năm 2004 thanh tra về các chất gây nghiện của chính phủ liên bang (Drogenbeauftragte der Bundesregierung) đã báo cáo có 40.000 trường hợp chết tại Đức mà hậu quả là do uống quá nhiều rượu, trong số đó 17.000 người là do xơ gan. Thêm vào đó là hằng năm có vào khoảng 2.200 trẻ sinh ra có khuyết tật vì người mẹ lạm dụng rượu. Ngoài ra còn dự đoán là khoảng 250.000 thanh thiếu niên và những người trưởng thành còn trẻ tuổi có nguy hiểm nghiện rượu hay đã nghiện rượu. Người nghiện rượu có trong mọi tầng lớp của xã hội. Đặc biệt là không ít người nghiện rượu trẻ tuổi là từ các tầng lớp trên. Những người này thường là thiếu thốn tình cảm của cha mẹ luôn luôn bận bịu.

H:  Hậu quả xã hội do chứng nghiện rượu gây ra như thế nào?

Đ:  Phí tổn cho các hậu quả của chứng nghiện rượu là rất lớn, vì bên cạnh gánh nặng của hệ thống y tế là các phí tổn gián tiếp như mất năng suất kinh tế quốc dân vì mất khả năng lao động và hưu non, các phí tổn do tai nạn giao thông có nguyên nhân là rượu, tội phạm và tỷ lệ ly dị cao của những người nghiện rượu. Trung tâm Đức về các hiểm nguy từ nghiện (Deutsche Hauptstelle für Suchtgefahren) dự tính thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân hằng năm là 20 tỉ euro, các dự tính khác ở trong khoảng từ 15 đến 40 tỉ euro. Đối lại, thu nhập của nhà nước từ thuế rượu trong thời gian này là hơn 3,5 tỉ euro một ít. Doanh số của công nghiệp rượu ở Đức nằm không đổi ở mức giữa 15 đến 17 tỉ euro với 85.000 lao động.

Bên cạnh những phí tổn về vật chất này tất nhiên là phải tính đến những mất mát về tình cảm do phải chịu đựng các hậu quả của chứng nghiện rượu.

H:  Xin cho biết những nguyên nhân nào đưa đến chứng nghiện rượu?

Đ:  Có hai nguyên nhân được nêu lên, nguyên nhân cá nhân và nguyên nhân xã hội:

·                    Nguyên nhân cá nhân

Nguyên nhân chính của chứng bệnh dường như nằm trong diễn biến về tâm lý xã hội. Rượu – nói chung là các chất gây nghiện – thường được dùng để làm giảm bớt căng thẳng nội tâm. Những căng thẳng này xuất hiện khi các tự nhận thức của một con người (thí dụ như rất là đàn ông hay rất là thành công) bị đe dọa bởi những kinh nghiệm trái ngược lại trong thực tế. Việc dùng các chất gây nghiện vì thế hay được quan sát thấy ở những người thuộc về típ quá tự yêu mình (narcissism).

Thế nhưng các khác biệt khác có nguyên nhân từ di truyền cũng đang được thảo luận, thí dụ như việc phân hủy rượu trong cơ thể hay trao đổi các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter). Về nguyên tắc, cũng như ở nhiều chứng bệnh tâm lý, người ta cho rằng việc hình thành chứng bệnh này có nhiều yếu tố và cũng phụ thuộc vào tính dễ bị tổn thương về tâm lý của từng người.

Các yếu tố di truyền đóng một vai trò quyết định trong nhiều trường hợp. Rất nhiều người nghiện rượu đã hoặc đang có người nghiện trong gia đình. Thế nhưng các nhà khoa học và bác sĩ vẫn chưa kết luận được là việc nghiện trong những trường hợp này thật sự là được di truyền lại hay chỉ là bắt chước. Qua một số nghiên cứu (thí dụ như ở những người sinh đôi) người ta phỏng đoán là rất có thể có khả năng di truyền của tiềm năng nghiện.

Các thiếu hụt của một bệnh nhân nghiện rượu thường được người chung sống gánh vác hay bù đắp. Từ những giúp đỡ này người chung sống thường nhận được tán thưởng từ xã hội hay những người khác và vì thế có thể tự đánh giá mình cao hơn. Những người chung sống lâm vào cơ chế này được gọi là người cùng lệ thuộc (codependence).

·                    Nguyên nhân xã hội

Rượu trong nhiều nền văn hóa là một chất gây nghiện được xã hội công nhận, có thể dễ dàng kiếm được và rẻ tiền và ngay trong một số trường hợp việc uống rượu được dự kiến trước. Trong nhiều dân tộc rượu đã hoàn toàn đi vào đời sống hằng ngày.   Ngay trong xã hội Việt Nam cũng có những câu “Nam vô tửu như kỳ vô phong”.  Những người đàn ông có tửu lượng cao thường được xem là có tính khí đàn ông, đáng khâm phục và từng trải. Việc này gây rất nhiều khó khăn cho các thảo luận về vấn đề này và khuyến khích cho việc lạm dụng rượu cũng như nghiện rượu.

H: Xin cho biết những diễn tiến của chứng nghiện rượu như thế nào?

Đ:  Bác sĩ người Mỹ E. M. Jellinek (1890-1963) đã đưa ra vào năm 1951 một mô hình về diễn biến của chứng nghiện rượu mà vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay. Ông phân biệt thành 4 giai đoạn:

·                     Giai đoạn triệu chứng

Việc bắt đầu uống các loại đồ uống có chứa cồn bao giờ cũng có động cơ xã hội. Ngược với những người uống bình thường, người mà sau này sẽ trở thành nghiện rượu có “cảm giác nhẹ nhõm thỏa mãn”. Đó hoặc là vì các căng thẳng nội tâm lớn thêm, hoặc là người này, ngược lại với những người khác, đã không học được cách đối phó với các căng thẳng nội tâm này. Lúc đầu người uống rượu cho rằng nổi nhẹ nhõm này xuất phát từ tình huống chứ không phải là do uống rượu và “tìm đến các cơ hội” mà qua đó nhân tiện cũng có uống rượu.

Trong thời gian từ nhiều tháng cho đến nhiều năm sức chịu đựng các áp lực nội tâm giảm đi nhiều đến mức người này thực tế là tìm chỗ “tránh hằng ngày” ở rượu. Vì người này không hay say nên việc uống rượu không gây ra nghi ngờ ở ngay chính người này và ở những người chung quanh. Sức chịu đựng được rượu tăng theo thời gian. Người nghiện rượu bắt đầu có một “nhu cầu ngày càng tăng”. Sau nhiều tháng hay nhiều năm tiếp theo đó, trạng thái chuyển từ uống thỉnh thoảng sang “uống liên tục để được nhẹ nhõm cất gánh nặng” và ngày càng cần dùng nhiều rượu hơn cho cùng một tác dụng không đổi.

·                     Giai đoạn tiền nghiện

Trong giai đoạn tiền nghiện (prodromal), nghiện được biểu hiện qua những lỗ hổng ký ức hay chứng quên (amnesia) xuất hiện đột ngột mà không cần phải có dấu hiệu say rượu. Người nghiện rượu có thể nói chuyện và làm việc nhưng qua ngày hôm sau thật sự là không có thể nhớ lại được nữa. Bia, rượu vang hay rượu mạnh không còn là thức uống nữa mà trở thành “thuốc” hết sức cần thiết. Người nghiện rượu dần dần nhận thức được là mình uống rượu khác với những người khác, bắt đầu cảm thấy xấu hổ và sợ sự phê bình của những người khác. Người này uống lén lút trong những dịp giao tiếp xã hội và cất dấu một lượng lớn rượu để dự trữ. Người nghiện rượu lúc nào cũng nghĩ đến rượu. Vì ngày càng phụ thuộc nhiều hơn nên cách uống “thèm khát” bắt đầu xuất hiện, dốc hết cả ly hay nhiều ly đầu tiên. Người nghiện rượu cảm thấy có điều gì không đúng và bắt đầu có cảm giác có lỗi và xấu hổ vì cách uống rượu của mình. Người này tránh các ám chỉ về rượu và cách uống rượu trong khi nói chuyện.

Lượng rượu uống ở thời điểm này đã là rất nhiều nhưng chưa được chú ý đến vì chưa dẫn đến say sưa thấy rõ. Giai đoạn này kết thúc với những lỗ hổng ký ức ngày một nhiều. Khả năng làm việc của cơ thể và sức đề kháng giảm dần, thường bị các bệnh cảm lạnh và rối loạn lưu thông máu nhiều hơn.

·                     Giai đoạn nguy kịch

Nghiện rượu bắt đầu với giai đoạn nguy kịch. Người nghiện rượu mất khả năng tự chủ. Ngay sau khi uống một lượng rượu nhỏ là xuất hiện một đòi hỏi mãnh liệt muốn uống nhiều hơn nữa và chỉ chấm dứt khi người nghiện rượu quá say hay quá bệnh để có thể uống tiếp tục. Một phần tự chủ vẫn còn sót lại. Người nghiện rượu tìm cách làm chủ bản thân, hứa sẽ không uống nữa và cũng tìm cách giữ sự tự kiềm chế này nhưng lại thất bại liên tục. Người này tìm cách biện hộ cho việc uống rượu. Mỗi một lần thất bại trong việc tự chủ đều có một lý do chính đáng từ bên ngoài.

Các cố gắng giải thích cho thái độ của chính mình rất là quan trọng đối với người nghiện rượu vì ngoài rượu ra người này không biết đến các biện pháp giải quyết khác cho những vấn đề của bản thân. Các lý luận giải thích được mở rộng trở thành cả một hệ thống giải thích cho tất cả cuộc sống của người nghiện rượu. Người nghiện rượu dùng hệ thống này để chống lại những áp lực xã hội. Từ những thay đổi về tính cách mà các xung đột với bạn bè, gia đình và trong nghề nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều. Người nghiện rượu bù trừ lại cho cảm nhận giá trị của bản thân ngày càng giảm đi bằng cách biểu lộ một sự tự tin quá mức.

Hệ thống giải thích và các xung đột ngày càng cô lập người bệnh. Nhưng người này không tìm lỗi lầm ở chính mình mà là ở những người khác và bắt đầu có một thái độ hung hãn (aggressive). Để phản ứng lại áp lực xã hội, người bệnh có những thời kỳ hoàn toàn không uống rượu. Người bệnh tìm một phương pháp khác để kiểm soát việc uống rượu, thay đổi cách uống và đưa ra quy định (chỉ uống một loại rượu nhất định ở một chỗ nhất định vào một thời gian nhất định). Để đối phó lại với sự không thông cảm của những người chung quanh cho chứng bệnh của mình, người bệnh ngày càng tự cô lập đối với xã hội. Người bệnh xa lánh bạn bè hay thay đổi chỗ làm. Người nghiện rượu không quan tâm đến mọi người chung quanh nữa, thu xếp các hoạt động theo việc uống rượu và bắt đầu phát triển tính tự thương hại lấy chính mình. Sự cô lập xã hội và các lúng túng trong nói dối cũng như trong giải thích trở thành không thể chịu đựng được nữa. Người nghiện rượu trốn tránh bằng cách trầm tư suy nghĩ hay thay đổi chỗ ở.

Cuộc sống gia đình bắt đầu thay đổi. Gia đình của người nghiện rượu, thường là còn che đậy người nghiện, tự cô lập đối với xã hội hay hoàn toàn ngược lại trốn tránh cảnh sống gia đình bằng nhiều hoạt động bên ngoài. Người nghiện rượu phản ứng bằng sự miễn cưỡng không có lý do. Khi thiếu rượu người này tìm đủ mọi cách để có rượu, bảo vệ các “kho dự trữ” bằng cách dấu rượu ở những nơi không bình thường. Các hậu quả cho cơ thể bắt đầu xuất hiện như run tay, đổ mồ hôi và rối loạn tình dục (liệt dương). Các hậu quả này lại càng trầm trọng thêm do sao lãng vấn đề ăn uống. Người bệnh bắt đầu uống rượu từ buổi sáng, say sưa hằng ngày trở thành thông lệ.

·                     Giai đoạn mãn tính

Giai đoạn mãn tính chỉ chấm dứt với sự phá hủy con người. Người nghiện rượu xuống dốc về mặt đạo đức, các cơn say sưa ngày càng dài hơn. Ở một số người xuất hiện các chứng rối loạn tâm thần vì rượu như bệnh tâm thần phân liệt. Người nghiện rượu uống với những người dưới mức của mình nhiều. Trong trường hợp không có các loại đồ uống có chứa cồn, người này cũng uống cả những loại rượu đã bị làm biến tính như cồn để đốt. Đáng chú ý là khả năng chịu đựng rượu giảm đi. Trạng thái sợ hãi hay run rẩy không xác định xuất hiện. Người nghiện rượu phản ứng lại các triệu chứng thiếu rượu bằng cách uống như bị ám ảnh. Ở nhiều người nghiện rượu còn hình thành nhiều điều mơ ước về tôn giáo không xác định. Các cố gắng để giải thích yếu đi và đến một thời điểm nào đó thì hệ thống giải thích ngừng hoạt động. Người nghiện rượu chấp nhận sự thất bại và hoàn toàn sụp đổ, đã có không ít người bỏ bê công việc không chịu làm.

Khi tiếp tục uống rượu các chứng rối loạn thần kinh xuất hiện như ảo giác, nghe thấy tiếng người nói, sợ hãi hay mất phương hướng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là chứng Delirium tremens nguy hiểm đến tính mạng, có thể xuất hiện khi bỏ rượu đột ngột. Ở thời điểm này bệnh tâm thần phân liệt hay động kinh đã rõ rệt. Trong giai đoạn cuối này người nghiện rượu mới sẵn sàng nhận sự giúp đỡ. Việc chuyển vào một bệnh viện chuyên môn là một việc có thể cứu sống tính mạng của người này và cũng là một khởi đầu cho việc điều trị cai nghiện. Tỷ lệ thành công rất nhỏ và các biện pháp chữa trị lâu dài nhiều lần lại thường là thông lệ.

H:  Xin cho biết những biểu hiện của chứng nghiện rượu?

Đ: Cũng xuất phát từ Jellinek là cách phân loại thông dụng của các biểu hiện chứng nghiện rượu:

·                     Típ alpha (Alpha alcoholism): Người này uống rượu để giải quyết các căng thẳng nội

tâm và mâu thuẫn.

Lượng rượu tùy thuộc vào từng tình huống stress. Đặc biệt nguy hiểm là sự lệ thuộc tâm lý vào rượu vì sự lệ thuộc của cơ thể vào rượu chưa xảy ra. Típ người này không nghiện rượu nhưng có nguy cơ nghiện.

·                     Típ beta (Beta alcoholism): Người này uống một lượng lớn trong các buổi giao tiếp xã

hội nhưng vẫn bình thường về mặt xã hội cũng như tâm thần. Người thuộc típ beta có lối sống gần rượu. Do thường uống rượu nên chịu nhiều hậu quả cho sức khỏe, tuy vậy những người này không bị lệ thuộc cả về cơ thể lẫn tâm thần nhưng có nguy cơ nghiện.

·                     Típ gamma (Gamma alcoholism): Người thuộc típ này có những thời kỳ không uống

rượu xen kẽ với những giai đoạn uống thật say sưa. Đặc trưng là mất sự tự chủ: Người này không thể ngưng không uống nữa, ngay cả khi đã có cảm giác là đã đủ rồi. Mặc dù là người này cảm thấy an toàn vì có khả năng không uống rượu một thời gian nhưng thật ra là đã nghiện rượu.

·                     Típ delta (Delta alcoholism) không gây sự chú ý của xã hội trong một thời gian dài vì

rất ít khi nhận thấy được người này say rượu. Mặc dù vậy đã có một sự lệ thuộc của cơ thể mạnh đến nổi phải uống rượu liên tục để tránh các triệu chứng của sự thiếu rượu. Xuất hiện nhiều tác hại lên cơ thể là hậu quả của việc liên tục uống rượu. Người uống rượu típ delta không thể kiêng rượu và đã nghiện rượu.

·                     Típ epsilon (Epsilon alcoholism) có những chu kỳ với những lúc uống thật nhiều rượu

và mất tự chủ có thể kéo dài nhiều ngày hay nhiều tuần. Giữa những giai đoạn này người thuộc típ epsilon có thể hằng tháng không uống rượu. Típ epsilon thuộc về những người nghiện rượu.

H: Xin cho biết các chứng bệnh do nghiện rượu gây ra?

Đ:  Các bệnh hậu quả của chứng nghiện rượu là xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản, chảy máu dạ dày, viêm tuyến tụy, động kinh, ung thư thực quản, viêm cơ tiêm, viêm cơ, yếu đề kháng cộng với nhiều khả năng nhiễm bệnh viêm phổilao, các bệnh thần kinh và rối loạn chức năng não như hội chứng Korsakoff.

Ở trạng thái những người nghiện rượu thường phải chịu đựng cảnh cơ thể suy nhược nói chung vì những bệnh này cũng như cảnh bị cô lập trong xã hội (mất bạn bè, gia đình, việc làm).

Chứng nghiện rượu ngoài ra còn ảnh hưởng đến toàn gia đình. Việc dùng vũ lực đối với người chung sống hay con cái có thể là áp lực rất lớn lên cuộc sống gia đình. Thường hay dẫn đến ly dị hoặc chia tay. Con cái của những người nghiện rượu sau này thường hay có những kiểu cách hành vi nhất định và đặc biệt là có nhiều hiểm nguy trở thành nghiện hay gắn bó với một người nghiện rượu.

H:  Việc điều trị chứng nghiện rượu như thế nào?

Đ: Rượu phải được từ bỏ một cách đột ngột trong lúc điều trị cai rượu. Vì trong lúc này có thể xuất hiện những phản ứng rất mạnh hoặc nguy hiểm đến tính mạng nên người bệnh cần được điều trị trong bệnh viện. Thời gian điều trị trong bệnh viện kéo dài 8-14 ngày. Trong thời gian này thường xuất hiện những triệu chứng như buồn nôn, bị xúc động, rối loạn trong giấc ngủ, bực tức và trầm uất. Nếu như cơ thể đã bị lệ thuộc nhiều vào rượu thì thêm vào đó là run rẩy (nhất là hai tay) và trong những trường hợp rất nặng là co giật và ảo giác (Delirium tremens).

Để người nghiện rượu có thể bỏ rượu được lâu dài nên cần đến sự giúp đỡ chuyên môn về tâm lý. Có thể điều trị tâm lý hoặc là trong một nhà điều dưỡng hoặc là ngoại trú.

Từ nhiều năm nay các nhóm tự giúp đỡ cũng rất là hữu ích. Tại đây những người đã từng nghiện rượu gặp gỡ nhau thường kỳ để trao đổi về vấn đề chung của họ. Các nhóm tự giúp đỡ có tác động trợ giúp cho việc điều trị đi đến thành công rất nhiều, trong một số trường hợp có thể xem đó là một sự lựa chọn khác cho các điều trị cổ điển. Nhưng điều này chỉ có thể có khi người bệnh có được chỗ dựa đúng mức từ gia đình và bạn bè.

Việc điều trị có thành công hay không thường phụ thuộc vào sức mạnh ý chí của người bệnh nhiều hơn là vào cách thức và thời gian điều trị. Mặc dù vậy, chữa trị chứng nghiện rượu càng sớm thì triển vọng thành công càng nhiều. Nếu bệnh nhân đã nhìn nhận được và có lòng mong muốn cai rượu cao độ thì cơ hội bỏ được rượu rất tốt. Dù sao thì cũng khoảng 50% bệnh nhân cai được rượu lâu dài.

Trong trường hợp lại uống rượu trở lại thì không thể bỏ qua được các biện pháp cai rượu và điều trị tâm lý sau đó. Nhiều bệnh nhân chỉ cai được rượu một cách ổn định lâu dài sau nhiều lần điều trị. Bệnh nhân có thể lại uống rượu trở lại sau nhiều năm hay ngay cả sau nhiều thập niên, tức là không có sự lành bệnh theo đúng nghĩa của nó. Bệnh chỉ được làm dừng lại bằng cách cai nghiện nhưng không được chữa trị lành hẳn.

H:Cô em gái của bạn tôi là một ca sĩ khá nổi tiếng nhưng thường không muốn ăn uống.  Khi tình trạng sức khoẻ của cô không được tốt và được đưa đi khám bệnh.  Bác sĩ gia đình giới thiệu đến bác sĩ chuyên khoa tâm thần và được chẩn đoán là cô bị bệnh chán ăn tâm thần. Tại sao lại có bệnh chán ăn tâm thần?

Đ: Chán ăn tâm thần (tiếng Anh: anorexia nervosa), hay chán ăn tâm lý, biếng ăn tâm lý, là một dạng của bệnh rối loạn ăn uống, có các triệu chứng như trọng lượng cơ thể thấp và sự bất thường trong cảm nhận về ngoại hình của bản thân, bị ám ảnh sợ hãi tăng cân. Người mắc chứng chán ăn biết rõ cách để giảm cân như chủ động nhịn ăn, dùng thuốc nhuận tràng, thuốc làm ăn mất ngon, nôn mửa hoặc tập thể dục rất nặng để tiêu hao năng lượng, ngoài ra họ có thể dùng thuốc ăn kiêng, lợi tiểu. Chứng bệnh này chủ yếu ảnh hưởng đến các thiếu nữ, chỉ khoảng 10% người mắc là nam giới. Chán ăn tâm thần có nguyên do phức tạp, nó là sự kết hợp của các yếu tố sinh học thần kinh, tâm lý và xã hội, trong trường hợp bị nặng, có thể dẫn đến cái chết. Bằng chứng là vào năm 2006, thế giới đã thực sự sửng sốt sau sự ra đi vĩnh viễn của người mẫu Brasil Ana Carolina Reston khi mới 21 tuổi, tại thời điểm đó cô chỉ nặng có 40 kg trong khi chiều cao là 1,72 m, chỉ số khối cơ thể (BMI) vào khoảng 13,4 thấp hơn nhiều giá trị cho phép. Ana từng là người mẫu quảng cáo cho hãng thời trang nổi tiếng thế giới của Giorgio Armani. Sau vụ việc này các quốc gia như Tây Ban Nha, Ý và Brasil đã cấm những người mẫu siêu gầy tham gia trình diễn. Tuy nhiên, hai trung tâm thời trang hàng đầu châu Âu là Paris và London vẫn từ chối áp dụng lệnh cấm kiểu này.

H:  Xin cho biết việc chẩn đoán và các đặc điểm lâm sàng của bệnh chán ăn tâm thần.

Đ:  Các tiêu chuẩn chẩn đoán của bệnh chán ăn tâm thần thường dùng bắt nguồn từ Tài liệu Thống kê. Chẩn đoán của Hiệp hội Tâm thần Mỹ về các Rối loạn Tinh thần (DSM-IV) như dưới đây.

Mặc dù các kiểm tra sinh lý có thể giúp chẩn đoán biếng ăn tâm lý nhưng khi chẩn đoán thực sự thì thường cần kết hợp với các biểu hiện hành vi, niềm tin và các biểu hiện ra bên ngoài cơ thể của bệnh nhân. Chẩn đoán chán ăn tâm thần được thực hiện bởi nhà tâm lý học lâm sàng, bác sĩ tâm lý hoặc các y sĩ lâm sàng đủ tiêu chuẩn khác.

Tiêu chuẩn chẩn đoán cho chứng chán ăn tâm thần theo DSM – IV  được trình bày đầy đủ sau đây:

·           Không muốn duy trì cân nặng bình thường hoặc chỉ có cân nặng trên tối thiểu một chút so với tuổi và chiều cao (ví dụ: mong muốn duy trì cân nặng thấp hoặc quá trình phát triển thể chất bất thường dẫn đến cân nặng thấp hơn 85% so với chuẩn).

·           Thể hiện sự sợ hãi mãnh liệt đối với việc tăng cân hoặc trở lên béo phì.

·           Đã từng có những rối loạn về trọng lượng hoặc ngoại hình, bị phụ thuộc quá nhiều vào cân nặng và ngoại hình ra sao trong việc tự đánh giá bản thân, phủ nhận những nguy hiểm trong việc duy trì cân nặng thấp.

·           Không có kinh trong 3 chu kỳ kinh nguyệt liên tiếp (sự mất kinh) đối với phụ nữ chưa đến thời kỳ mãn kinh.

Thêm vào đó DSM-IV-TR còn chia thêm hai dạng con nữa:

·           Dạng hạn chế: Trong suốt giai đoạn mắc bệnh chán ăn tâm thần người bệnh không thường xuyên có các hành vi ăn quá nhiều hoặc làm trống dạ dày, tên đầy đủ của bệnh là chán ăn tâm thần dạng hạn chế.

·           Dạng ăn nhiều hoặc dạng tẩy rửa: Trong thời gian mắc chứng chán ăn tâm thần người bệnh thường có hành vi ăn quá nhiều hoặc làm trống dạ dày (có nghĩa là cố tình nôn mửa, tập thể dục quá nặng, lạm dụng thuốc nhuận tràng, lợi tiểu, rửa ruột). Tên đầy đủ của bệnh là chán ăn tâm thần dạng ăn nhiều (tẩy rửa).

H:  Các chữa trị bệnh chán ăn tâm thần như thế nào?

Đ: Bước điều trị đầu tiên cho người mắc chứng chán ăn tâm thần là tập trung vào việc lấy lại trọng lượng bình thường, đặc biệt đối với bệnh nhân đã quá nguy hiểm cần phải nhập viện, còn trong phần lớn trường hợp người bệnh được chữa trị như bệnh nhân ngoại trú với sự chăm sóc của các bác sĩ thông thường, bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học lâm sàng và các chuyên gia về sức khỏe tâm thần khác. Một tạp chí lâm sàng gần đây gợi ý rằng các liệu pháp tâm lý có hiệu quả trong việc hồi phục lại trọng lượng, có kinh trở lại ở các bệnh nhân nữ và nâng cao chức năng tâm lý và xã hội hơn so với các hỗ trợ đơn giản và các chương trình giáo dục đơn thuần. Đồng thời không có trị liệu tâm lý nào tỏ ra có hiệu quả vượt trội so với các trị liệu khác. Chữa trị dựa trên nền tảng gia đình được cho là phù hợp trong điều trị với các bệnh nhân đang ở độ tuổi thanh niên.

Điều trị bằng thuốc như là SSRI hoặc thuốc chống trầm cảm không cho thấy hiệu quả trong điều trị chán ăn tâm thần cũng như ngăn ngừa tái phát bệnh.  Thuốc chống trầm cảm vẫn được dùng nhưng chỉ cho các bệnh nhân có các rối loạn tâm lý đi kèm như lo âu và trầm cảm để ngăn chặn các rối loạn này.

Sự bổ sung 14 mg kẽm trên ngày đang được khuyến cáo như điều trị thông thường cho chứng chán ăn tâm thần vì một nghiên cứu cho thấy rằng tốc độ tăng trọng lên gấp đôi sau khi điều trị với kẽm. Cơ chế hoạt động của thuốc được giải thích trên giả thiết là có sự gia tăng của chất dẫn truyền thần kinh trong nhiều bộ phận của não trong đó có amygdala sau khi kẽm được đưa vào dẫn đến gia tăng sự ngon miệng.

HCần phải làm gì khi người thân bị chán ăn tâm thần?

Đ:  Khi một người bạn hoặc người thân bị biếng ăn tâm lý, chúng ta có thể giúp đỡ họ bằng cách:

·                     Nói chuyện với họ, nói cho họ hiểu tại sao chúng ta lo lắng. Hãy cho họ thấy rằng ta đang rất quan tâm và là chỗ dựa đáng tin cậy.

·                     Khuyến khích họ giãi bày tâm sự, tìm kiếm các tài liệu liên quan đến bệnh, nhưng cần lưu ý cung cấp các tài liệu hợp lý tránh làm người bệnh cảm thấy lo lắng thêm. 

·                     Thúc giục họ đi gặp bác sĩ hoặc nhà tham vấn tâm lý.

·                     Người chán ăn tâm thần luôn khẳng định là họ không cần sự giúp đỡ dù trong thực tế họ rất cần. Việc điều trị càng sớm bao nhiêu sẽ càng giúp bệnh nhân mau chóng hồi phục sức khoẻ trở lại.

H: Thế nào là một bệnh nhân mắc chứng bệnh rối loạn ăn uống là ăn vô độ?

Xin bác sĩ giải thích để tôi biết rõ.

Đ: Bệnh ăn vô độ (Bulimia nervosa) là một bệnh thuộc rối loạn ăn uống có thể nguy hại đến mạng sống. Bệnh nhân có ăn vô độ, quá lo lắng về cân nặng của mình. Họ có thể bí mật dấu diếm để ăn một lượng rất lớn các thực phẩm, và sau đó cố gắng để thoát khỏi nó, bằng cách cố làm cho sạch ruột, uống thuốc nhuận tràng hoặc thuốc nước. Ngoài ra người bệnh có thể gây nôn mữa hoặc kết hợp tập thể dục quá nhiều. Đôi khi, người bệnh cố đào thải những thức ăn sau khi ăn một ít đồ ăn vặt hoặc sau một bữa ăn bình thường.

H:  Xin cho biết những nguyên nhân gây ra bệnh ăn vô độ.

Đ: Nguyên nhân chính xác của bulimia là chưa được biết rõ. Các yếu tố, trong đó có thể đóng góp vào sự rối loạn, bao gồm:

·                     Mong muốn giảm cân;

·                     Những thay đổi trong mức độ hóa chất trong não bộ;

·                     Căng thẳng cảm xúc;

·                     Khiếm lòng tự trọng.

H: Những yếu tố nguy cơ có thể đưa đến bệnh ăn vô độ.

Đ:  Các yếu tố, làm tăng khả năng phát triển ăn vô độ:

·           Giới tính: nữ- những cô gái và các bà thường hay ăn vô độ hơn các bé trai và các ông;

·           Tuổi: vị thành niên hoặc ở tuổi trung niên (late teens or early adulthood) ;

·           Sự hiện diện của các thành viên gia đình (anh chị em, cha mẹ hoặc con cái), người đã có rối loạn ăn uống hoặc rối loạn tâm trạng;

·           Rối loạn hoá chất trong não bộ;

·           Rối loạn tâm thần:  Kém lòng tự trọng (low self-esteems);

·           Sự không hài lòng với trọng lượng và kích thước cơ thể;

·           Áp lực truyền thông (như TV, các đặc san thời trang) và xã hội đã phô trương những người mẫu và tài tử phim ảnh có thân hình thon thả mảnh mai; 

·           Các lực sĩ, tài tử phim ảnh, vũ nữ và những người mẫu có nhiều nguy cơ cao trong rối loạn ăn uống.  Những hướng dẫn viên (coaches) và cha mẹ vô tình khuyến khích những lực sĩ trẻ giảm cân, giữ cân thấp và hạn chế ăn uống để có thân hình hấp dẫn hơn.

H- Xin cho biết các triệu chứng của bệnh ăn vô độ.

Đ: Những dấu hiệu và triệu chứng tâm lý bao gồm:

·           Bận tâm (lo lắng, ưu tư) về hình thể và cân nặng;

·            Sống trong sự sợ hãi về tăng cân;

·           Luôn luôn có cảm tưởng không kiểm soát được thái độ ăn của mình (eating behavior);

·           Ăn một lượng lớn bất thường thực phẩm cùng một lúc cho đến khi cảm thấy vật vã hoặc thường đau bụng;

·           Ăn nhiều vô độ trong một bữa nhậu nhẹt hơn là một bữa ăn bình thường;

·           Cố gây nôn mữa hoặc tập thể dục quá độ để tránh tăng cân sau cuộc chè chén;

·           Lạm dụng thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu, thụt tháo, hoặc dùng thuốc giảm cân sau khi ăn;

·           Các triệu chứng của bệnh trầm cảm;

·           Những khó khăn với sự kiểm soát của những ham muốn ăn uống của họ;

·           Lạm dụng rượu hoặc thuốc;

·           Không muốn ăn ở các nơi công cộng hoặc ăn trước mặt mọi người;

·           Đi vào nhà vệ sinh ngay sau khi ăn hoặc giữa bữa ăn.

Các triệu chứng thể chất bao gồm:

·           Đau bụng và ợ nóng;

·           Vấn đề kinh nguyệt bị rối loạn ở nữ giới trước thời mãn kinh;

·           Sưng má và hàm;

·           Đau họng;

·           Sưng tuyến nước bọt (trong miệng và họng);

·           Cố gắng tập thể dục quá nhiều;

·           Răng bị sứt mẻ và lợi răng bị viêm (do tiếp xúc với acid dạ dày);

·           Chấn thương hay vết sẹo trên mu bàn tay (là kết quả của răng tổn thương da bàn tay trong quá nôn cưỡng bức).

H:  Ăn vô độ cũng có thể gây ra các vấn đề khác.  Xin cho biết những biến chứng do bệnh sinh ra?

Đ:  Bệnh ăn vô độ có thể gây ra các biến chứng như sau:

·           Vấn đề về răng và đau họng từ acid dạ dày, trong đó tăng qua thực quản trong nôn;

·           Những thay đổi trong cân bằng các hóa chất và các chất lỏng do nôn mửa và lạm dụng thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo.

·            Lạm dụng rượu và thuốc;

·           Tự huỷ mình.

Các triệu chứng của các biến chứng bao gồm:

·           Chóng mặt;

·           Cảm giác mờ nhạt;

·           Khát nước;

·           Chuột rút cơ bắp;

·           Yếu đuối;

·           Táo bón;

·           Mất kinh nguyệt hoặc kinh kỳ thất thường ở phụ nữ trước thời kỳ mãn kinh;

·           Nhịp tim không đều, suy tim;

·           Vấn đề với trái tim, bao gồm cả cái chết đột ngột.

Những người ăn vô độ có một tỷ lệ cao của bệnh tâm thần. Đặc biệt phổ biến:

·           Phiền muộn (thường với tâm trạng thay đổi đột ngột);

·           Lo lắng và bệnh tâm thần hoảng loạn;

·           Ma túy và nghiện rượu.

H:  Xin cho biết cách điều trị bệnh ăn vô độ.

Đ:  Các mục tiêu của điều trị là:

·           Ngừng ăn uống và làm sạch cơ thể;

·          Cải thiện tuỳ theo trọng lượng và hình dạng cơ thể.

Điều trị bao gồm:

1- Ăn uống lành mạnh

Bạn có thể được giới thiệu đến một chuyên gia dinh dưỡng. Ông hoặc bà này sẽ dạy cho bạn, làm thế nào để thực hiện theo một chế độ ăn uống lành mạnh và duy trì một trọng lượng khỏe mạnh.

2-Tâm lý trị liệu

  Nó có thể là một phương pháp rất có hiệu quả trong điều trị, đặc biệt là khi kết hợp với các loại thuốc.

·                     Giúp người bệnh nhận diện rõ vấn đề (ăn vô độ) của mình (Cognitive behavioral therapy).

·                     Nhờ cha mẹ can ngăn cho trẻ không nên có thái độ ăn uống không lành mạnh và giúp cho trẻ tự kiểm soát việc ăn uống của mình và cuối cùng giúp gia đình tự giải quyết những vấn đề mà sự ăn vô độ có thể có trong tuổi trưởng thành của các vị thành niên (Family-based therapy).

·                     Nêu lên những khó khăn trong mối thân tình, giúp cải thiện sự truyền đạt và sự khéo léo trong việc giải quyết vấn đề hiện hữu (Interpersonal psychotherapy).

3-Thuốc men

Thuốc chống trầm cảm có thể làm giảm bớt các triệu chứng của bệnh ăn vô độ khi kết hợp với tâm lý trị liệu.  Một loại thuốc đặc biệt chống trầm cảm được FDA cho phép dùng là fluoxetine (Prozac), một loại SSRI (selective serotonin reuptake inhibitor) có thể chữa trị được ngay cả khi bệnh nhân không mắc chứng bệnh trầm cảm.

4-Nằm bệnh viện

Thông thường bệnh ăn vô độ được điều trị ngoại trú nhưng nếu trường hợp bệnh nặng và có những biến chứng trầm trọng, bệnh nhận được điều trị trong môi trường bệnh viện.

Tuy nhiên cũng có những chương trình điều trị rối loạn ăn uống theo cách chữa trị ngoại trú thay vì phải điều trị nội trú (nằm bệnh viện).

H: Những phương cách phòng chống ăn vô độ.

Đ: Mặc dù không có một phương cách chắc chắn để phòng ngừa chứng ăn vô độ, chúng ta có thể hướng dẫn người bệnh một thái độ ăn lành mạnh và có thể giúp ngăn ngừa ăn vô độ. Phương pháp phòng ngừa bao gồm:

·                     Nuôi dưỡng và vun đắp hình ảnh cơ thể khoẻ mạnh cho trẻ, ngay dù vóc dáng hoặc hình thể của chúng như thế nào đi nữa;

·                     Tham vấn bác sĩ nhi khoa.  Các bác sĩ nhi khoa có thể là một cố vấn tốt để phát hiện ra sự rối loạn ăn uống và giúp để ngăn ngừa sự phát bệnh;

·                     Nếu phát hiện một người thân hoặc một người bạn có vấn đề về ăn uống có thể đưa đến bệnh tật, nên nói với họ cần sự giúp đỡ;

·                     Duy trì một cách tiếp cận hợp lý đến dinh dưỡng;

·                     Tham vấn với bác sĩ hoặc bác sĩ tâm thần, nếu bạn nghĩ:

·                     Mong muốn giảm cân được nhận ra nhờ sự hướng dẫn;

·                     Có thể phát triển một rối loạn ăn uống.

H: Tôi có người bạn bị bệnh mất ngủ kinh niên.  Tại sao lại bị mất ngủ kinh niên?

Đ: Tốt nhứt là chúng ta nên tránh những thói quen làm xáo trộn giấc ngủ. Như cổ nhân đã nói: Ngừa bệnh hơn là chữa bệnh.

Ở đa số bệnh nhân, nguồn gốc của mất ngủ kinh niên xảy ra cả chục năm trước đó. “Nhẹ gánh lo âu” là phương thuốc hữu hiệu nhứt tránh bệnh mất ngủ. Khi ta tạo thói quen nằm trên giường để đầu óc suy nghĩ lăng xăng thì sớm muộn gì bịnh mất ngủ cũng sẽ thăm viếng ta. Lý do là tuổi càng chồng chất thì những kỷ niệm u sầu không như ý muốn ta sẽ nhiều hơn là kỷ niệm vui. Cái đặc trưng của lo âu là kỷ niệm vui thì lại dễ quên còn kỷ niệm buồn thì rất khó quên. Vì thế, ngay lúc còn trẻ nếu ta không tập những phương pháp giúp cho tinh thần tĩnh lặng thì hậu quả mất ngủ và bệnh tật sẽ rất dễ xảy ra khi ta về già. Lo âu trước khi ngủ, não bộ ta sẽ phát ra những làn sóng nhanh dạng beta ngăn cản não bộ đi vào giấc ngủ sâu. Khi ta ngủ sâu (giai đoạn 3 và 4) thì não bộ phát ra làn sóng chậm delta và theta.

Ta nên tránh dùng những chất kích thích trước khi đi ngủ. Thói quen uống rượu, uống cà phê hay hút thuốc vào ban đêm xảy ra rất nhiều ở đàn ông Á Châu khi họ gặp phải những chuyện căng thẳng trong cuộc sống. Họ không biết rằng những thói quen đó sẽ tạo nên bệnh mất ngủ. Mất ngủ kinh niên sẽ mở cửa cho nhiều bệnh tật vào cơ thể sau này. Chưa kể nghiện rượu và nghiện thuốc lá chính nó là những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cơ thể và sức khỏe sinh sản. Những nghiên cứu cho thấy rượu và thuốc lá có nhiều ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và số lượng tinh trùng ở nam giới, ngoài ra còn ảnh hưởng không tốt lên sức khỏe bào thai nếu người phụ nữ hút thuốc và uống rượu trong lúc có thai. Mặc dù uống rượu và hút thuốc tạo ra những sảng khoái nhứt thời nhưng về lâu về dài sẽ có tác hại đáng kể đến sức khỏe và gây ra nhiều căng thẳng khác. Cách tốt nhứt trị căng thẳng là tham khảo ý kiến với người thân và học những phương pháp thư giãn như yoga, tài chi hay thể thao.

Sinh viên học sinh thì cần phải ngủ có giờ giấc. Tốt nhứt là ngủ trước 10 giờ đêm. Thức đêm lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và làm xáo trộn đồng hồ sinh học trong não bộ. Thời xưa khi chưa có đèn điện thì con người sống gần gũi với nhịp điệu của đồng hồ sinh học hơn. Sau này, khi xã hội tiến bộ, tạo ra nhiều sản phẩm như TV, internet có khả năng gián tiếp làm xáo trộn đồng hồ sinh học. Chơi những game bạo động vào buổi tối cũng có khả năng kích thích não bộ làm cho khó ngủ. Thống kê cho thấy trẻ em thời nay bị thiếu ngủ kinh niên. Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng trẻ em thiếu ngủ kinh niên sẽ dễ bị bịnh béo phì và tiểu đường.

Ngoài ra, các em cần tránh rượu chè và lạm dụng chất kích thích. Những năm đại học là những năm mà các em dễ bị xáo trộn giấc ngủ nhứt vì các em không còn sống trong khuôn khổ gia đình nữa. Cũng nên biết rằng một số lớn các bệnh tâm thần đều xảy ra ở lứa tuổi đôi mươi. Nếu thiếu ngủ và căng thẳng kinh niên thì dễ mở cửa cho bệnh vào.

Nếu chúng ta ai sẵn có tánh lo âu thì không nên xem tin tức truyền hình trước khi đi ngủ. Những cảnh thiên tai, bạo động, chiến tranh sẽ kích thích não bộ và có khả năng làm xáo trộn giấc ngủ.

H: Xin chỉ dẫn cách điều trị bệnh mất ngủ kinh niên.

Đ: Khi bị mất ngủ kinh niên và đã tập luyện những cách tự nhiên để giúp giấc ngủ không thành công thì bệnh nhân nên đi khám bác sĩ để được điều trị bằng thuốc. Hiện nay có nhiều loại thuốc trị mất ngủ. Nếu mất ngủ đơn thuần thì có thể dùng các loại thuốc trong nhóm benzodiazepine (Temazepam, Flurazepam, …), nhóm non-benzo (Zolpidem, Zaleplon, Zopiclone). Nhóm thứ nhì thông dụng hơn vì không gây nghiện thuốc và lờn thuốc. Thuốc ở trong cơ thể ta ngắn hạn nên không gây mệt mỏi khi thức dậy. Ở người lớn tuổi, nếu nhịp thức ngủ circadian bị xáo trộn, thức khuya ngủ ban ngày, còn được trị bằng các thuốc Melatonin hay Ramelteon.

Nếu bệnh mất ngủ do trầm cảm hay lo âu quá độ thì cần phải uống các loại thuốc nhóm SSRI (Fluoxetine, Paroxetine, …). Ngoài ra, một vài loại thuốc trầm cảm có tác dụng giúp giấc ngủ cũng thường hay được dùng là Trazodone, Mirtazapine và Elavil.

Tóm lại, bệnh mất ngủ xảy ra ở mọi lứa tuổi. Khi bị mất ngủ ngắn hạn, chúng ta cần tìm cách để có giấc ngủ bình thường trở lại. Khi mất ngủ trở thành kinh niên thì nó trở thành một căn bệnh và quan trọng hơn nữa là bệnh mất ngủ sẽ mở cửa cho rất nhiều những bệnh khác xâm chiếm cơ thể và tinh thần của quý vị. Nếu quý vị bị bệnh mất ngủ kinh niên thì nên tham khảo với bác sĩ gia đình để được trị liệu cho đúng mức.

H: Ông chú tôi năm nay 84 tuổi.  Gần đây ông hay quên những chuyện vừa mới hôm qua. Con cháu đến thăm ông mà ông không còn nhận ra được.  Ông cứ nhìn sững sờ vào mặt và không nhớ đến tên ai nữa. Cháu đưa ông đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán là bệnh Alzheimer. Đó là bệnh gì vậy?

Đ: Alzheimer là bệnh thoái hóa, không phục hồi của hệ thần kinh (neurodegenerative). Bệnh nhân dần dần bị mất trí nhớ, thay đổi tâm tánh và sa sút trí tuệ (dementia, démence).  Bệnh do Bác Sĩ Alois Alzheimer (Đức Quốc) tìm ra vào năm 1906 sau khi giải phẫu khám nghiệm một người đàn bà chết vì chứng sa sút trí tuệ. 

 Quan sát não bộ cho thấy có sự hiện diện của rất nhiều mảng thoái hóa amyloides (neuritic plaques, plaques amyloides) bên ngoài tế bào thần kinh chết và những xoắn sợi thần kinh (neurofibrillary tangles, écheveaux neurofibrillaires) do protein Tau tạo ra nằm trong tế bào. Các mảng amyloides và các xoắn sợi thần kinh làm tổn hại hệ thần kinh và ngăn trở sự dẫn truyền mệnh lệnh. 

 Bệnh dần dần dẫn đến sự sa sút trí tuệ ở người già.  Đây là một hội chứng phức tạp bao gồm nhiều bệnh lý khác nhau như sự mất trí nhớ, mất khả năng phán xét, lý luận, thay đổi nhân cách, tâm tánh, cử chỉ, hành động.  Cả nhiều thế kỷ qua, người ta vẫn thường tuởng rằng hiện tượng trên là một giai đoạn bình thường trong tiến trình lão hóa.  Ngày nay, khoa học cho biết sự sa sút trí tuệ là hậu quả của nhiều bệnh lý khác nhau như: đứng đầu là Alzheimer, tai biến mạch máu não stroke, bệnh Parkinson, bệnh Hungtinton, bệnh Creutzfeldt –Jacob (còn gọi là bệnh bò điên), cancer não, chấn thương sọ não, lạm dụng rượu, và một vài loại thuốc Tây, v. v… 

 Thống kê 2011 cho biết, tại Canada hiện có trên 747.000 người trên 65 tuổi bị bệnh lú lẫn. Cứ 20 người tuổi trên 65 thì có một người bị Alzheimer. Theo ước đoán, vì tầng lớp người già không ngớt gia tăng thêm lên mãi, cho nên số bệnh nhân Alzheimer có thể lên đến 1.4 triệu người vào năm 2031. 

Hoa Kỳ hiện có trên 5.3 triệu bệnh nhân Alzheimer, trong số nầy gồm có 5.1 triệu người trên 65 tuổi, và lối 200.000 người bệnh dưới 65 tuổi.  Alzheimer không những chỉ tàn phá bệnh nhân mà thôi, nhưng nó cũng ảnh hưởng nặng nề luôn đến sinh hoạt gia đình và cuộc sống của người thân nữa.  Đó cũng là một gánh nặng về y tế phí của quốc gia. 

H: Nguyên nhân của bệnh lú lẫn Alzheimer.

Đ: Cho tới ngày nay, các nhà khoa học cũng chưa tìm ra được nguyên nhân thật sự của căn bệnh quái ác nầy. Họ nghi ngờ bệnh có thể là do một loại virus có biến chuyển chậm (lentivirus), do độc tố từ chất nhôm aluminium, ô nhiễm môi sinh (pesticides, nông dược), do hiện tượng tự miễn autoimmune, hoặc do di truyền (maladie d’Alzheimer familiale autosomique dominante) nếu đã từng có xảy ra cho những người thân trong gia đình, hay trong dòng họ qua nhiều thế hệ rồi, hoặc nếu cha mẹ mang gene Alzheimer thì con cái có thể có nguy cơ bị Alzheimer sau này.

Nhưng hình như các nhà chuyên môn thiên về phía giả thuyết «protéine bất thường» nhiều hơn hết, trong đó protein beta amyloid không hòa tan đóng một vai trò then chốt trong sự làm phát sinh ra bệnh Alzheimer. Protein nầy hiện diện một cách bình thường trong các tế bào thần kinh và cả trong tế bào của các cơ quan khác nữa. 

 Ở người khỏe mạnh bình thường, beta amyloid sẽ tự phân hủy và bị loại đi nên không thể tạo ra các mảng amyloid được. Còn đối với bệnh nhân Alzheimer, protein beta amyloid không thể tự phân hủy mà còn kết hợp lại với nhau thành những mảng amyloids trong mô não. 

 Người ta cũng nhận thấy có sự tan biến tế bào thần kinh trong những vùng thuộc về trí nhớ, và các vùng tâm thần xung yếu khác của não bộ. Ngoài ra còn có sự tuột giảm nồng độ của acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters).

H: Xin cho biết diễn biến của bệnh Alzheimer như thế nào? 

 Đ: Một số nhà chuyên môn sử dụng một thang thăm dò gồm có bảy bậc được gọi là thang suy thoái toàn diện (échelle de détérioration globale ou échelle de Reisberg). 

 Bệnh Alzheimer có diễn biến chậm và tuần tự thông qua ba giai đoạn. Sự phân chia nầy rất cần thiết để giúp bác sĩ có một mô hình tổng quát của người bệnh, hầu có thể phác họa kế hoạch chữa trị thích nghi. 

 1-Giai đoạn tiên khởi: Kéo dài từ 2 đến 4 năm. Thỉnh thoảng hay quên việc nầy việc nọ.  Đôi khi bệnh nhân than phiền khó tiếp thu được những thông tin từ bên ngoài, hoặc cảm thấy khó khăn để thi hành theo lời chỉ dẫn. Người bệnh cũng gặp nhiều trở ngại trong cách diễn đạt tư tưởng của họ, không thể tìm ra đúng chữ để sử dụng. 

 Khó phân biệt giai đoạn nầy với hiện tượng lão hóa thông thường của mọi người. Bình thường thì người già cũng hay quên những chi tiết nào đó hay những chuyện lặt vặt trong sinh hoạt hằng ngày.  Người bị bệnh Alzheimer cũng có thể quên một cái gì đó, một chi tiết nào đó, quên cả việc lớn và lẫn việc nhỏ nhoi không quan trọng. 

 Thay đổi nhẹ về nhân cách, thí dụ như tâm tánh bất thường, lo âu, trầm cảm, có khi giận dữ, mất đi sự hồn nhiên thường nhật, bớt tánh khôi hài, từ từ sống khép kín hoặc rút ra khỏi các sinh hoạt quen thuộc.  Sự mất trí nhớ càng ngày càng tăng thêm theo thời gian và theo sư tiến triển của bệnh. 

 2-Giai đoạn trung gian: Kéo dài từ 2 đến 10 năm. Suy thoái về các khả năng trí tuệ và thể xác.  Mất trí nhớ, quên cả quá khứ của mình, quên bạn bè là những ai, hoặc quên luôn cả cha mẹ.  Không thể định hướng trong không gian và trong thời gian.  Một số bệnh nhân trở nên không yên, đi tới đi lui, hoặc đi lang thang, lai vãng từ chỗ nầy đến chỗ nọ mà không có mục đích rõ rệt. Mất sự tập trung tư tưởng. Giai đoạn nầy gây nhiều khó khăn cho những người có nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân.  Tâm thần không ổn định. Giấc ngủ bị xáo trộn. Ngôn ngữ khó khăn. Khó khăn trong việc tìm chữ thích hợp để nói, hay dùng những từ không chính xác.  Trở nên thù địch, chửi thề, chụp giữ, đánh cắn, đập phá, hung bạo với mọi người xung quanh, bạn bè và cả với người thân trong gia đình.  Thường có tâm trạng hay bực tức, la hét, hoảng loạn và sau đó thì rơi vào trạng thái trầm cảm.  Không thể sống một mình được. Cần phải có người săn sóc một cách thường trực. 

3-Giai đoạn cuối cùng: Thường rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài từ 1 đến 3 năm mà thôi. Thường hay ngủ suốt ngày. Bất động. Không còn nhớ gì hết. Không còn hiểu gì hết. Không còn biết phương hướng. Không nhận biết người nhà.  Bệnh nhân ăn uống không được, hay sặc, khó nuốt, nên bị mất cân, gầy ốm rất nhanh.  Mặt vô cảm không biểu hiện một cảm xúc nào hết. Quên cả bản thân. Không quan tâm đến môi trường xung quanh.  Trao đổi liên lạc với người khác không bằng lời nói mà qua ánh mắt, bằng sự khóc la hoặc rên rỉ.  Mất trí nhớ, mất khả năng trao đổi ý tưởng với người khác. Không nói được. Ỉa trây đái dầm (incontinence).  Không tự rửa ráy, tự mình bận đồ hoặc tự mình săn sóc được.  Nằm liệt giường và cuối cùng thì chết đi vì bị viêm phổi, viêm thận hoặc vì một chứng bệnh nào khác.  Có thể lầm lẫn với hiện tượng lão hóa bình thường Alzheimer có biến chuyển rất chậm vì vậy bệnh nhân cứ tưởng rằng tại họ già nên phải mất trí nhớ.  Đôi khi những dấu hiệu bên trên là những báo hiệu bước đầu của bệnh Alzheimer. 

 H: Những dấu hiệu nào cho biết một người bệnh đang mắc bệnh Alzheimer?

Đ: Có 10 dấu hiệu tiên phong có thể cho biết người bệnh quả thật là bị bệnh Alzheimer:

 1/ Mất trí nhớ ngắn (Memory loss that affects day to day function): Nghĩa là không nhớ những việc gì mới xảy ra gần đây. Tuy nhiên, sự kiện nầy có thể xảy ra cho bất kỳ ai. Đôi khi tự nhiên mình quên phức đi một cái tên, một số điện thoại, v. v… Người bị Alzheimer cũng quên như thế nhưng họ không bao giờ nhớ trở lại được hết và họ cứ hỏi đi hỏi lại hoài hoài về một vấn đề mặc dù họ đã được trả lời rồi. 

 2/ Khó khăn trong đời sống hằng ngày (Difficulty performing familiar tasks): Như không thể tự nấu cơm, tự chuẩn bị một bữa ăn bình thường. Đôi khi làm xong nhưng quên lửng không dọn ra, hay họ quên là họ đã có chuẩn bị bữa ăn rồi. 

 3/ Khó khăn trong ngôn ngữ (Problems with language): Hay quên những chữ rất thường, hoặc sử dụng những từ không thích hợp khiến cho không ai hiểu nổi. Không có thể gọi đúng tên đồ vật. 

 4/ Mất định hướng trong thời gian và trong không gian (Disorientation of time and place): Họ có thể bị lạc lối trên con đường trong xóm mà họ ở từ xưa nay. Họ không hiểu tại sao họ đang ở chỗ đó, và cũng không biết lối nào để trở về nhà.  

5/ Không biết cách phán xét, hoặc phán xét quá thô thiển (Poor or decrease judgment): Một người còn khỏe mạnh đôi lúc có thể bị lãng trí như quên không giữ cháu bé trong giây lát. Người bị Alzheimer thì quên tuốt luôn sự hiện diện của đứa nhỏ mà mình có trách nhiệm trông coi. 

 6/ Gặp khó khăn trước những khái niệm trừu tượng (Problems with abstract thinking): Ai cũng có thể gặp khó khăn trong việc theo dõi kiểm soát sổ trương mục tiết kiệm của mình. Người bị Alzheimer thì không còn hiểu ý nghĩa các số ghi trong cuốn sổ của họ và cũng không biết họ cần phải làm gì. 

 7/ Lạc mất đồ đạc (Displacing things): Ho có thể cất giữ đồ vật trong những nơi không thích hợp, chẳng hạn như đem cất cái bàn ủi trong ngăn đá của tủ lạnh, hoặc đem cất cái đồng hồ trong keo đường, v. v… 

 8/ Biến đổi tâm tánh và thái độ (Changes in mood and behavior): ai cũng có thể thay đổi tâm tánh hết, nhưng người mắc bệnh Alzheimer thì có cảm xúc không ổn định, tâm tánh của họ biến đổi rất mau, thí dụ như đi từ điềm tĩnh vui cười trước đó sang thái độ thù nghịch hoặc giận dữ khóc lóc chỉ trong vòng đôi ba phút mà thôi. 

 9/ Thay đổi nhân cách (Change in personality): Người bệnh Alzheimer có thể trở nên cau có khó chịu, đa nghi, e dè và lo âu. Có thái độ thù địch với mọi người kể cả người thân trong gia đình họ. 

 10/ Mất hết sự ham muốn và sáng kiến (Loss of initiative): Họ tách rời ra khỏi cuộc sống, không muốn tham gia vào bất cứ một sinh hoạt nào hết. Sống thu hẹp lại, không quan tâm đến người khác, việc khác, v. v… 

H: Bệnh Alzheimer có thể điều trị được không?

Đ: Cho đến nay cũng chưa có một loại thuốc nào có thể chữa được hay chặn đứng lại được sự tiến triển của bệnh Alzheimer.  Chỉ có thuốc giúp làm giảm bớt được phần nào các triệu chứng của bệnh, và giúp cho đời sống của bệnh nhân được phần nào dễ chịu hơn đôi chút mà thôi: Reminyl, Rivastigmine, Aricept, Chlorhydrate demmantine.

H: Làm sao để phòng ngừa cơn bệnh quái ác này?

Đ:  Hiện nay chưa có một món thuốc nào khả dĩ có thể ngừa được bệnh Alzheimer.  Một nếp sống lành mạnh có thể giúp làm giảm nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer.  Chẳng hạn như :

– Phải luôn luôn vận động, linh hoạt, làm vườn, đi bộ, tập thể dục, thể thao thường xuyên và đều đặn. 

– Dinh dưỡng lành mạnh: rau cải trái cây tươi các loại, đa dạng, sậm màu để có đủ vitamins và các chất chống oxy hóa antioxidants. Ăn nhiều cá để có chất omega 3. 

– Kích thích não, bắt trí não làm việc thường xuyên: đọc sách báo, viết văn, viếtbáo, chơi đánh cờ, ô chữ, xếp chữ, v. v…

 – Tránh tình trạng căng thẳng tinh thần (stress). 

 – Kiểm soát huyết áp động mạch, cholesterol, và đường huyết ở giới hạn bình thường. 

– Tránh gây chấn thương sọ não. 

– Giữ mối giao tiếp xã hội cho luôn luôn tốt đẹp. 

– Nhảy đầm, khiêu vũ dưỡng sanh. Có thí nghiệm cho thấy nhịp điệu Tango có thể giúp bệnh nhân Parkinson và Alzheimer cải thiện sự phối hợp giữa các động tác một cách khá rõ rệt. 

– Có rất nhiều thí nghiệm đã sử dụng thực phẩm bổ sung và thuốc thiên nhiên như vitamins E, B, acide folique, Selenium, Ginkgo biloba (bạch quả), v. v…  Kết quả không rõ rệt, không chắc chắn cũng như còn thiếu thí nghiệm lâm sàng. 

– Nên nhớ là không có thuốc nào có thể chữa được bệnh Alzheimer hết kể cả thuốc thiên nhiên, thuốc Đông y, thuốc Bắc, v. v… 

Share this post