Văn Hóa Tính – Lý Đại Nguyên (Phần 1)

Văn Hóa Tính – Lý Đại Nguyên (Phần 1)

(TVVN.ORG)KHỞI ĐỀ

Văn Hóa Tính là nội dung ngoại hình và hành vi Đẹp Đẽ, Trong Sáng, Tốt Lành, Tươi Mới, Hướng Thượng của mọi hiện tượng tự nhiên cũng như mỗi Người, theo chiều Thăng Hóa Sáng Tạo không cùng của Thân Thể Tâm Linh Tư Tưởng Trí Tuệ Tình Thương nơi Con Người, của Văn Hóa Dân Tộc, của Văn Minh Nhân Loại, kể cả cuộc phát triển muôn hình vạn trạng sắc hương của Chúng Sinh và Vũ Trụ trong cõi vô thường đầy bất trắc, trì độn, hung hiểm, đen tối của lực cản, lực đẩy, lực hóa giải, lực bứt phá tự nhiên và tự tạo nơi nội tại của mỗi hiện tượng, hợp cùng ngoại duyên tốt xấu, lành dữ của Vạn Hữu.

Nếu những người tin vào Đạo Trời thì đó đích thật là Thiên Tính, còn Đạo Phật gọi là Phật Tính, với Nhận Thức Khoa Học Tự Nhiên thì đó là Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Tính, Vô Biên, Vô Hạn. Dù là Nguồn Siêu Thể vốn Vô Tính, nhưng khi đã chuyển động xoắn kết hóa sinh ra các hiện tượng Hữu Thể, Hữu Hình, Hữu Chất. Hữu Biên Hữu Hạn trong Lãnh Không Vô Biên, Vô Hạn, Vô Độ thì lập tức thành Hữu Tính, là tính tồn tại sống động phát triển và thăng hóa, theo Nguyên Lý: Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp, mà ta gọi đó là Văn Hóa Tính, áng sáng tinh anh Siêu Thức trong cõi vô thường hăng hóa nơi Con Người và Vạn Hữu cùng sống.

Văn Hóa Tính là Đẹp Sáng Tốt Mới khi hiện hữu thì kẻ song sinh là Xấu, Sai, Tối, Ác … đồng thời xuất hiện. Cũng như có Sự Sống thì ngay lập tức có Cái Chết song hành kèm theo. Nhưng trong Luật Sinh Hóa Vũ Trụ không chỉ có hai lực m Dương, nóng lạnh đối nghịch nhau trong một Nguyên Tử, và các nguyên chất của cả Vạn Hứu, mà vốn có Lực Trung Hòa, ‘trung hòa tử’, nhằm điều chỉnh những xung đột, làm quân bằng sự dư thừa hay thiếu hụt và nhu cầu ôn nhu tồn tại phát triển vươn lên của mọi hiện tượng, đồng thời tạo cơ duyên cho các hiện tượng hoàn chỉnh cùng tồn tại trợ duyên với nhau cùng sinh hóa thăng hóa.

Con Người là hiện tượng anh linh siêu việt của cuộc sinh hóa, triển hóa, thăng hóa vũ trụ, nên có nguồn Tâm Lực hùng hậu nhậy bén, có khả năng Tự Do,Tự Chủ, Sáng Tạo, tự làm đẹp sáng tốt mới cho bản thân, tâm tư, tình cảm, hành vi chính mình, và hình thành nguồn cội và giá trị tâm linh, suy tư, siêu thức mỗi Người tạo ra các phương tiện, phương pháp, công cụ phục vụ Con Người, như các công trình Nghệ Thuật, Học Thuật, Kỹ Thuật, Khoa Học, tổ chức nề nếp Xã Hội, cơ sở Giáo Dục, xây dựng cơ chế Quyền Lực, Luật Lệ, Chính Trị của Quốc Gia và QuốcTế, nhằm huy động sức mạnh các tập thể để phục vụ cho khắp mặt Nhân Sinh, cũng như trong mọi dịch vụ phát triển Kinh Tế và nâng cao mức sống của tất cả.

Rõ ràng là Vũ Trụ khởi động từ Nguồn Năng Lực Siêu Thể vô tính, vô biên, vô hạn, trong Lãnh Không lạnh lùng vô độ, do các Nguồn Năng Lực Siêu Thể vô tính đó tự xoắn kết, tự phân hóa, tự biến hóa các Nguồn Năng Lực Vô Tính thành Hữu Tính, Hữu Hạn, vừa trái nghịch nhau, vừa dung hóa bổ sung với nhau tạo thành các hiện tượng Vạn Hữu, từ những đơn vị năng lực vi trần cực nhỏ soắn kết đó chuyển biến thành các đơn vị Nguyên Tử, đây là nguồn cội chuyển hóa ra các Nguyên Chất và Năng Lượng sinh hóa của các Tinh Cầu trong Vũ Trụ, nguồn cội các Sinh Chúng trên Mặt Đất.

Như đã thưa, Con Ngươi là hiện tượng kết tinh siêu tuyệt của Vũ Trụ, nên Nguồn Năng Lực nơi tâm thân mỗi Người, đều có Thiên Tính, Phật Tính, hay Văn Hóa Tình, có khả năng tự do, tự chủ sáng tạo, kể cả việc sáng tạo ra các phương pháp thiện hóa, Nâng Cao Trí Tuệ, mở Rộng Từ Tâm, triển khai Siêu Thức, góp phần thăng hóa Siêu Thức lớn lao rộng khắp của Hoàn Vũ. Từ Nguồn Siêu Thức Vũ Trụ ấy, lại thường xuyên trợ duyên cho Con Người và Vạn Hữu sinh sinh hóa hóa thăng hóa hết đợt này, sang đợt khác không ngừng.

VĂN HÓA THỜI ĐẠI

Văn hóa là sản phẩm của Con Người, xuất phát từ tình cảm trí tuệ hành xử của mỗi người, được thể hiện ra nơi tâm linh đạo đức, suy tư viễn kiến, khả năng sáng tạo và hành vi ứng xử của mình đối với chính bản thân, tha nhân, tập thể, vạn hữu và thiên nhiên. Một khi những việc làm sáng đẹp, lành mạnh, chân chính, hướng thượng đó, đã tạo được ảnh hưởng qua lại giữa người và người, sẽ bổ sung cho nhau, đồng thời phân hóa đãi lọc với nhau, rồi điều hợp lại, kết tinh thành mẫu số chung về tinh thần và luân lý của các tập thể cùng sinh sống ở một môi trường nhất định, thì đương nhiên trở nên nếp sống, cách sống, lối sống, cảnh sống, cuộc sống và tạo ra phương tiện sống của một tập thể có văn hóa. Từ đó loài người mới thoát khỏi cảnh sinh hoạt Mặc Thức Nhân Nhiên của động vật trạng thái, để bước vào tiến trình thăng hóa của lịch sử các dân tộc và nhân loại, mở ra thời đại Ý Thức Nhân Loại của các Dân Tộc tự chủ, và sẽ đi tới thời đại Nhận Thức Nhân Văn toàn cầu.

Do vậy, văn hóa là nội dung của Xã Hội Loài Người, là hướng vươn lên của cuộc thăng hóa lịch sử nhân loại và góp phần trong cuộc đại thăng hóa của vũ trụ. Vì văn hóa là công trình sáng tạo của Con Người, đã ảnh hưởng trở lại với các Văn Hóa Nhân để tạo ra các công năng bảo lưu, dung hóa, rồi thể hiện ra các sinh hoạt có Văn Hóa Tính trong mọi lãnh vực: Xã hội, kinh tế, dịch vụ, chính trị, cai trị, luật pháp, văn học, nghệ thuật, khoa học và khắp mặt nhân sinh, làm thành một Nền Văn Minh của từng Quốc Gia. Các nền văn minh cá biệt đó là nội dung tinh thần của mỗi nước, nội dung cuộc thăng hóa của lịch sử các dân tộc, kết thành truyền thống Văn Hóa Dân Tộc. Bởi thế, khi nói tới Văn Hóa Thế Giới là phải nói tới cội nguồn của các luồng văn hóa ấy, đó là Văn Hóa Dân Tộc.

Chính các luồng Văn Hóa Dân Tộc hội tụ lại, đã làm cho nền Văn Hóa Toàn Cầu thành phong phú muôn mầu, muôn vẻ rực rỡ và luôn luôn thăng hóa không cùng. Đây cũng là lý do mà các nền Văn Hóa Dân Tộc nào đã chủ động mở rộng tiếp thu, rồi dung hóa nổi với các luồng văn hóa văn minh của các dân tộc khác, mà vẫn giữ được bản chất văn hóa dân tộc mình, đều trở thành những trung tâm văn hóa của các thời đại. Ngược lại rất có thể bị đồng hóa, hoặc bị quên lãng. Hiện nay, Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành Trung Tâm Văn Hóa Thế Giới Thời Đại. Vì Hoa Kỳ là một quốc gia vốn có bản chất Đa Chủng Tộc, Đa Văn Hóa. Nên Hoa Kỳ hoàn toàn tự do thoải mái không bị quá khứ cản trở, để đón nhận các luồng văn hóa, văn minh của khắp các dân tộc khác đổ vào, làm phong phú thêm cho Văn Hóa Mỹ. Trước kia Việt Nam cũng là một Dân Tộc đã từng viên dung được hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, với ba luồng Đạo Học: Phật, Lão, Khổng, hầu như trái ngược nhau. Đạo Khổng chủ trương Lý Giới Hữu Vi Nhập Thế. Đạo Lão chủ trương Duy Nhiên Vô Vi Xuất Thế. Đạo Phật chủ trương Nhân Chủ Siêu Vi Giải Thoát, khi vào Việt Nam đều được nền Văn Hóa Nhân Chủ cổ truyền của Việt Tộc kiên trì hàng ngàn năm để dung hóa trọn vẹn, thành một nền Văn Hiến Tổng Hợp Toàn Diện: Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp, đại diện cho nền Văn Minh Thảo Mộc Đông Phương vào thời Lý Trần, từ năm 1010 đến năm 1400.

VĂN HÓA DÂN TỘC

Sự xuất hiện của giống Người trên hành tinh xanh này là một nhân duyên siêu tuyệt, mà cuộc đại thăng hóa của trời đất đã đạt được. Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vi Diệu Hằng Hóa Thăng Hóa Vô Biên Vô Hạn của Vũ Trụ, không sắc, không hương, không đo lường được, nhưng luôn luôn tác động duyên khởi, duyên sinh cho cuộc đại sinh hóa của nhân loại và vạn hữu; cũng luôn luôn rộng mở để đón nhận sự hội nhập các nguồn năng lực thăng hóa của nhân loại, vạn hữu. Chính vì thế, mà Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vi Diệu cội nguồn bình đẳng của trời đất đã được thăng hóa để hoàn thiện nên một giống Người có nguồn Tâm Linh Siêu Thức Vũ Trụ tiềm tàng nơi tâm thân. Khi các Ông Bà tổ của giống Người, vươn vai đứng thẳng dậy, dưới ánh sáng mặt trời, bước đi vững chắc trên mặt đất, giải phóng cho đôi tay, với mười ngón linh hoạt, với cái đầu ngẩng cao, cùng một bộ óc biết nghĩ ngợi đơn sơ, với năm giác quan bén nhạy, biết xử dụng được những dụng cụ trợ thủ ngoại thân…là lúc giống Người tự xác định vị thế ưu việt của mình đối với muôn loài muôn vật trên hành tinh này. Tuy đã xác định được vị thế siêu đẳng đó, nhưng Loài Người cũng phải mất hàng triệu năm phấn đấu mới trở thành Con Người toàn diện.

Dù có sẵn nền tảng Tâm Linh Siêu Thức của Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vi diệu Hằng Hóa Thăng Hóa Vũ Trụ trong người, nhưng phải chờ tới khi các Ông Tổ, Bà Tổ trưởng thành về sinh lý, rồi do bản năng, cảm tính sinh tồn và phát triển dòng giống thúc đẩy, họ mới tìm tới nhau, Nam Nữ hòa duyên làm công việc thay tự nhiên, phối hợp truyền giống tạo thành con cái. Con cái là kết tinh của huyết thống Cha Mẹ, mang một dấu ấn Tâm Linh Di Thức Huyết Thống, ghi rõ trong bản đồ DNA của từng người, tạo ra những dòng họ riêng. Kể từ đó, trong mỗi người con, do cha me sinh ra, ngoài nguồn Tâm Linh Siêu Thức Vũ Trụ, Tâm Thức mỗi người còn có thêm nguồn Tâm Linh Di Thức Huyết Thống. Nhưng phải chờ tới nguồn Tâm Linh Thế Thức Nhân Loại đóng góp thêm vào cho Tâm Thức mỗi người thì Nền Tâm Thức ấy mới thành toàn diện; Gồm 3 nguồn: Siêu Thức + Di Thức + Thế Thức, đủ sức tự do, tự chủ, sáng tạo, nâng cao trí tuệ, phát triển tình thương đối với chính mình, với mọi người, mọi loài, mọi vật trong trời đất. Do phạm vi nhân quần xã hội mở rộng, nên kinh nghiệm sống và kiến thức nhân sinh phong phú thêm lên, đóng góp cho Nguồn Thế Thức của mỗi người lớn mạnh. Kinh nghiệm và kiến thức nhân quần xã hội đã giúp cho Con Người có được Nguồn Tâm Linh Thế Thức, giúp cho Nhân Loại vượt thoát khỏi thời kỳ sinh hoạt Mặc Thức Nhân Nhiên tiến vào thời đại Ý Thức Nhân Loại.

Thời đại Ý thức Nhân Loại phát triển sôi động rầm rộ nhất là thời các dân tộc nông nghiệp, định canh, định cư lập quốc. Tất cả những kinh nghiệm, suy nghĩ, kiến thức của nhân loại từ thời Mặc Thức Nhân Nhiên, qua những giai đoạn của các tập thể Thị Tộc nhặt hái và Bộ Lạc săn câu trong rừng suối ở khắp nơi trên mặt đất, rồi tiến tới giai đoạn chăn nuôi thú hiền nơi bình nguyên, đều được loài người truyền cho nhau và con cháu, qua cử chỉ, lời nói và mọi phương tiện biểu tỏ khác đã lưu lại trong Nguồn Thế Thức Nhân Loại. Quan trọng hơn nữa, qua sự hình thành thai nhi, thì Nguồn Thế Thức Nhân Loại nơi Cha Mẹ đã truyền thẳng vào Nguồn Di Thức Huyết Thống của từng người, hòa quyện với Nguồn Siêu Thức Vũ Trụ nơi mỗi người, và trong khi sinh trưởng Con Người còn được Nguồn Thế Thức đương thời, do sự yêu thương chỉ bảo dậy dỗ cho nên người của cha mẹ, họ hàng và đại chúng. Tất cả đều được thể hiện ra trong cuộc sống từng người từ tầm bé đến khôn lớn. Rồi được ý thức đại chúng cùng đóng góp, tạo thành nền tảng cho Văn Hóa Dân Tộc. Bởi thế, nên mọi sinh hoạt của Quốc Gia mới có Văn Hóa Tính, tác động mạnh tới lãnh vực tư tưởng, suy tư, sáng kiến, sáng tạo của Con Người, sản xuất ra các phương tiện phục vụ cuộc sống toàn diện cho Con Người của những Quốc Gia Nông Nghiệp mỗi ngày một mới và tinh xảo hơn.

Ở thời Thị Tộc, Con Người sống hoàn toàn tùy thuộc vào thiên nhiên, thiên nhiên vừa là nguồn nuôi dưỡng, vừa là hiểm họa đe dọa sinh mạng Con Người, mà thiên nhiên rộng lớn có nhiều hiện tượng bí ẩn, khiến cho Con Người kinh sợ. Với bản năng, bản tính, cảm tính, linh tính của Con Người, Ý Thức tôn kính và khiếp sợ Thần Linh đã xuất hiện, trở thành tín ngưỡng Đa Thần. Vào thời Bộ Lạc xã hội đi dần vào tổ chức. Vị Tù Trưởng cầm đầu Bộ Lạc thuộc về Thế Quyền. Vị Thầy Pháp coi về Thần Quyền, Trị Bệnh và Cố Vấn cho Bộ Lạc. Như vậy, việc phân quyền giữa Thế Quyền và Thần Quyền, giữa Chính Quyền và Tôn Giáo, giữa Người Cai Trị và Nhà Văn Hóa đã được phân nhiệm ngay từ thời tổ chức Bộ Lạc. Đến thời Quốc Gia thống nhất, Chế độ Phong Kiến thành lập, đứng đầu là Nhà Vua, với hệ thống quần thần thống trị, toàn dân từ trung ương xuống địa phương, đều trở thành kẻ bị trị. Chư Thần cũng được ý thức con người thu về một mối, cầm đầu điều khiển bởi một vị Thần Tổ duy nhất, được tôn vinh là Chúa Tể Càn Khôn, buộc mọi người phải kính sợ tôn thờ và vâng phục. Tùy mỗi nước, mỗi vùng, mỗi tôn giáo đã có những tên gọi riêng cho Ngài, mà tựu chung cũng là để chỉ về Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Tính Vi Diệu Hằng Hóa Thăng Hóa Vô Biên Vô Hạn của Vũ Trụ, đã được ý chí, ý thức, tín ngưỡng của loài người Nhân Cách Hóa ra để kính tin và thờ lạy. Nhưng tất cả những hiện tượng linh thiêng, suy tư và thực tế kể trên, đều đã góp phần vào việc xây dựng Nền Văn Hiến Quốc Gia, rồi lưu truyền trong lịch sử thành truyền thống Văn Hóa của các Dân Tộc.

VĂN MINH KHU VỰC

Một số Dân Tộc sớm trưởng thành, có nhiều nhà trí thức uyên thâm, tiến sâu vào lãnh vực suy tư, triết lý, luận thuyết. Dưới bầu trời cao rộng ban ngày có ánh dương soi sáng rực rỡ, ban đêm đầy sao lấp lánh, cuốn hút tâm tư Đạo Sĩ và Triết Gia hướng lên trời cao huyền bí, tìm về nguồn gốc và bản thể Vũ Trụ, cuối cùng nhiều nhà lập thuyết bị rơi vào cảnh tận cùng kỳ lý, phải nhìn nhận ở trên trời cao xanh kia có một Vị Chúa Tể Càn Khôn ngự trị và an bài mọi sự, cầm nắm vận mạng Con Người. Được gọi đây là luận thuyết Duy Thần. Khi triết phái Duy Thần xuất hiện thì lập tức triết phái Hoài Nghi cũng ra đời bén gót. Đưa ra những nghi vấn về sự hiện hữu và quyền năng tối thượng toàn triệt của vị Chúa Tể Càn Khôn kia? Kể từ đó phong trào suy tư về Đạo Lớn, về Uyên Nguyên về Bản Thể của Vũ Trụ bùng nổ. Đủ mọi triết gia, triết phái và biện chứng như chủ thuyết Duy Thần, Duy Lý, Duy Tâm, Duy thực, Duy Vật… và Hiện Sinh đua nhau xuất hiện để khẳng định luận cứ của mình là Chân Lý. Từ trên Năm Ngàn năm nay có 3 khu vực Văn Minh đã xuất hiện và còn trải dài ảnh hưởng tới nay. Đó là Văn Minh Ấn Độ, Văn Minh Trung Hoa, Văn Minh Hy Lạp.

VĂN MINH ẤN ĐỘ – Khoảng Năm Sáu ngàn năm trước đây, bộ lạc Aryen từ Lưỡng Hà Châu tránh nạn hồng thủy, di cư vào lục địa Ấn Độ, định cư tại lưu vực sông Hằng. Họ tôn thờ một vị thần tối cao duy nhất là Brahma. Với quan niệm: “Brahma là bản thể nguyên nhân của vũ trụ. Vạn hữu sinh ra từ Brahma và trở về với Brahma”. Xã hội chia ra thành 4 giai cấp. Giai cấp đứng đầu là Brahman Tu Sĩ, sinh ra từ phần đầu của Brahma. Giai cấp thứ nhì là Kastryas Quý Tộc, giữ việc cai trị, sinh ra từ phần thân Brahma. Giai cấp thứ ba là Vaisyas Thương Nhân, Công Nhân, Nông Dân, sinh ra từ phần tay Brahma. Giai cấp thứ tư là Sourdras Thổ Dân vùng cao, sinh ra từ phần chân Brahma. Còn lớp Parihas Tiện Dân không thuộc giai cấp nào, sinh ra từ chất thải của Brahma, họ bị sống khốn khổ hơn loài vật. Mở đầu cho phong trào triết thuyết của Ấn Độ là phái Upanishads đi từ tuyên dương “Đấng Brahma là nguồn gốc vũ trụ, sáng tạo ra vạn hữu. Brahma ở khắp nơi, ở trong Ta là Atman – Linh Hồn hay Tự Tính của mỗi người. Con Người không lãnh hội được Chân Ngã Brahma vì bị Maya trò biến ảo của vũ trụ che khuất”, đến việc hoài nghi về Brahma: “Đấng Brahma cao cả ngự trên trời xanh, điều khiển cuộc Maya vô thường biến ảo kia có biết được bao nhiêu việc mình làm không? Hay chính Ngài cũng không biết nốt? Và Ngài có thật là Ngài không?”Khởi đi từ sự nghi ngờ về sự hiện hữu và quyền lực của Vị Chúa Tể Càn Khôn này, các triết phái ở Ấn Độ mọc lên như nấm, lý giải khắp mặt về tư tưởng và nguồn gốc Vũ Trụ, tạo thành một nền Văn Minh tỏa sáng. Gồm: Triết phái Vedanta – Duy Tâm nhất nguyên, lấy Thiện Ác làm tiêu chuẩn. Không nhận Brahma là một Hữu Thể, mà chỉ là Tinh Lực Vũ Trụ. Phái Samkhya – Số Luận nhị nguyên, cho là Vũ Trụ có 2 phần: Tự Tánh là Praki và Thần Ngã là Parusa. Phái Mimasa bảo tồn tính cách thường còn của Brahma. Phái Nyaya – Nhân Minh Luận khai sáng phương pháp Lý Luận Học quy nạp. Vaissesyka – Thắng Luận cực vi, cho là các hiện tượng Vũ Trụ đều quy về 3 yếu tố: Thực Chất + Đức Tánh + Nghiệp Tác. Nhưng cuối cùng các tiểu quốc trong lục đia Ấn Độ vẫn nằm dưới quyền lực thống trị về tinh thần cùa các tu sĩ Brahman – Ấn Giáo. Tuy nhiên trong tăm tối vẫn còn tia sáng, đó là việc Đức Phật Thích Ca, một người đã tổng hợp được mọi triết thuyết của Văn Minh Ấn Độ, lập ra Đạo Giác Ngộ: Nhân Chủ Siêu Vi Giải Thoát để nay trở thành Tôn Giáo Toàn Cầu.

VĂN MINH TRUNG HOA – Trung tâm lục địa Trung Hoa nằm giữa hai dòng sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử, nơi mà khoảng Hai Mươi Ngàn Năm trước giống Thần Nông từ chiếc nôi có tên Hòa Bình của vùng Đông Nam Á tiến lên đây, định cư, định canh trồng lúa, lập quốc. Khoảng Năm Ngàn Năm trước do Viêm Đế Thần Nông cai trị. Cháu đời thứ 3 của Viêm Đế là Đế Minh lấy Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục được phong làm vua Phương Nam, lấy quốc hiệu Xích Quỷ, xưng là Kinh Dương Vương, vào khoảng năm 2879 trước Dương Lịch. Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lấy nàng Âu Cơ, được cha truyền ngôi cho. Ông không xưng Đế, xưng Vương như ông cha mình, mà lấy hiệu là Lạc Long Quân. Ông cùng vợ đi khắp nơi, dậy dân làm ruộng và trồng dâu, nuôi tằm, xe tơ, dệt vải. Nhưng không lập triều đình cai trị, mà trao quyền trực trị cho các Tộc Trưởng. Từ đó mới có tên là Bách Việt. Tất cả Bách Việt đều nhận Lạc Long Quân và u Cơ là cha mẹ mình. Cuối cùng thì giống Thần Nông đã bị giống Phục Hy đồng hóa tại trung thổ. Chỉ còn họ Hồng Bàng trực hệ của Lạc Long Quân và u Cơ là bỏ đất giữ dân, di cư, đi mất khoảng gần một ngàn năm xuống tới Phương Nam, tức là về quê cũ vùng Hòa Bình, ở châu thổ Hồng Hà, tái định cư lập quốc, lấy tên nước là Văn Lang. Nhà vua xưng hiệu Hùng Vương, tự nhận là con cả của bố Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ. Đó là hai vị Thần Tổ của Dân Tộc Việt. Từ đấy dân tộc Việt có tôn giáo thờ Ông Bà – Rồng Tiên, đặt nền tảng cho nền Nhân Chủ Đạo.

Trở lại Phương Bắc, khoảng năm 2700, trước Tây Lịch, giống nòi Phục Hy, vốn là bộ lạc du mục, do Hiên Viên Hoàng Đế cầm đầu, từ ngoại biên vùng Đông Bắc tiến vào Trung Nguyên, chiếm vùng châu thổ sông Hoàng Hà, rồi tranh giành Trung Thổ với dòng giống Thần Nông. Đến thời Nhà Hạ từ năm 2205 – 1766, trước Dương Lịch. Nhà Hạ hủy bỏ chế độ Mẫu Hệ thiết lập hệ thống Phụ Hệ, cha truyền con nối, với hệ thống cai trị có tên là Hồng Phạm Cửu Trù, mà khu trung tâm số 5 là Hoàng Cực. Hoàng là rộng lớn bao la. Cực là duy nhất tuyệt đối, đó là đạo của đấng Quân Vương thống trị. Như vậy, có nghĩa, cai quản trời đất là ông Thượng Đế, cai trị đất nước là ông Hoàng Đế, làm chủ gia đình là ông Gia Trưởng, mà Hoàng Đế là con Thượng Đế thay Trời trị dân. Bởi vậy, chỉ nhà Vua mới được tế Trời, nền văn minh Trung Hoa không có tôn giáo thờ Trời, mà chỉ có đạo thờ Vua.

Đến thời Nhà Chu, năm 1776-1122, trước Dương Lịch, Chu Công tuy đã khám phá ra thuyết Dịch Lý, nhưng nó lại trở thành công cụ bói toán, mà không thể chuyển vào thực tế để phá vỡ hệ thống cai trị Hồng Phạm Cửu Trù đóng khung kiên cố. Khiến cho nước Trung Hoa chỉ là nền Văn Minh, mà không có động lực Văn Hóa. Suy tư, tính toán, toàn là mưu lược chiến tranh, với thủ đoạn chính trị, và làm ăn gian dối. Chính vì thế, nên khi Khổng Tử lập thuyết, ông cũng chỉ đưa ra được Thuyết Chính Danh – Định Phận. Tam Cương – Ngũ Thường. Vua ra Vua, Quan ra Quan; Thầy ra Thầy, Trò ra Trò; Cha ra Cha, Con ra Con, trong vòng Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, mà vẫn nằm trong khuôn khổ Hồng Phạm Cửu Trù khép kín. Chế độ phong kiến cha truyền con nối tiếp tục thống trị, người dân bị trị, xã hội loạn lạc không thể chuyển dịch. Từ đó Bách Gia Chư Tử thi nhau xuất hiện, như Lão Đam, Dương Chu, Mạc Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử…đưa ra đủ mọi khuynh hướng tư tưởng, cả thuận lẫn nghịch với Đạo Khổng. Riêng Lão Tử chỉ viết một cuốn Đạo Đức Kinh, rồi bỏ đi mất dạng. Ông đề ra chủ trương “Vô Vi nhi Vô Bất Vi” Tức là không làm mà không phải không làm. Đừng đem ý thức chủ quan của mình can thiệp vào với Đạo Tự Nhiên. Ông nhìn nhận có Vị Phó Cả tạo tác ra vũ trụ. Nhờ đó, các Đạo Sĩ mới lập ra Lão Giáo, vẽ nên một triều đình Thiên Quốc giống với triều đình Trần Gian, có vị Ngọc Hoàng Thượng Đế cai quản, có vị Vương Mẫu trang nghiêm, và chư thần tiên Nam, Nữ. Lão Tử được tôn là Thái Thượng Lão Quân chuyên việc luyện linh đơn.

Lão Giáo phát triển rộng khắp, ảnh hưởng cả vào triều đình nhà Hán. Đến đời Hán Vũ Đế, năm 140 trước Dương Lịch. Đạo Khổng được công nhận là Quốc Giáo, Đức Khổng Tử được tôn lên làm ‘Vạn thế sư biểu”. Nho Sĩ thi đỗ là quan. Đạo Nho trở thành công cụ của triều đình Đế Quốc Đại Hán. Lão Giáo bị loại khỏi triều đình. Người Hoa được gọi là người Hán, chữ Nho trở thành chữ Hán, được dùng vào việc Hán hóa các thuộc quốc. Do đó, tư tưởng Khổng Giáo tràn lan khắp Á Đông. Năm 111 trước Dương Lịch, nhà Hán chiếm trọn Việt Nam, nhưng không đồng hóa nổi Việt Tộc vì tinh thần Độc Lập của Dân Tộc đã được hỗ trợ bởi tinh thần Tự Chủ của Phật Giáo, gắn kết với nhau hàng trăm năm trước, để biết cách tự bảo vệ mình, đồng thời tìm thế viên dung 3 tôn giáo là Phật + Lão + Khổng. Rồi trên ngàn năm kiên trì dung hóa với tư tưởng Nhân Chủ Việt, tạo thành nguồn Văn Hóa Việt Nam: Nhân Chủ Nhân Văn, khác biệt cả với văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.

VĂN MINH HY LẠP – Đoạn văn sau đây được trích trong TỔNG THỨC VẬN của Lý Đại Nguyên. “Khoảng 40 thế kỷ trước, một bộ lạc man rợ bỏ triền sông Danube tiến xuống phía Nam, tràn vào bán đảo Grèce, học văn minh, pha máu với người bản xứ, sau đó chiếm trọn đảo Grèce, lập thành quốc gia, mang tên tổ phụ là Hélène. Hy Lạp tạo ra một nền văn minh sáng lạn, ảnh hưởng lớn tới văn minh Âu Châu và nhân loại hiện đại.“Người Hy Lạp rất thông minh, thích khảo sát và sáng tạo. Đầu tiên họ cũng sống trong nhận thức đa thần, như bất cứ bộ lạc bán khai nào, nhưng đứng đầu chư thần là đấng Zeus coi việc trên trời dưới đất. Dưới đấng Zeus là có các vị thần gió, mưa, biển, tài năng, khoa học, văn chương… Những vị thần ấy là nguồn nuôi dưỡng nền văn học. Nền văn hóa của dân tộc Hy Lạp thành hình rất sớm, khoảng từ 26 đến 23 thế kỷ trước, các nhà đại hiền triết và khoa học xuất hiện. Mở đầu là học thuyết Hoài Nghi – Biến Động của Héraclite, liền sau đó Pameride lập thuyết Bản Thể để phản đối. Rồi được Demorite giải thích sự vật theo thuyết Nguyên Tử. Đến Socrate thành lập Luân Lý, dựa trên tiêu chuẩn thiện, ác, đem triết học vào cuộc sống chính trị, xã hội, mở lối cho Platon thành lập thuyết Duy Lý, tức là đặt viên gạch móng cho hệ phái Duy Tâm, và rồi soạn thảo cuốn Chế Độ Cộng Hòa. Dung hợp quan niệm của Socrate với Platon, Aristote thành lập Phương Pháp Lý Luận Khoa Học, một yếu tố cần cho việc thành lập Hệ Thống Tư Tưởng, nhưng ở phương pháp Tố Nguyên của Aristote, phần ý niệm Tâm Linh được coi là nguyên bản sự vật, còn phần vật chất hiện hữu bị coi là phụ thể luôn luôn biến đổi. Nên sau đó Epicure thành lập thuyết Duy Cảm Giác để phủ nhận giá trị ý niệm của lý trí, mà chỉ nhìn nhận sự việc cảm giác được mà thôi. Sống trong không khí phồn tạp của các ngành tư tưởng đó, Zenon thành lập thuyết Khắc Kỷ, khuyến khích một cuộc sống đức hạnh hợp với luật tự nhiên hơn. Nền học thuyết rực rỡ Hy Lạp thiếu mất tư tưởng gia Tổng Hợp, nên đã bị ngưng đọng, phân tán, rồi bị Đế Quốc La Mã bứt ra từng mảnh, truyền khắp Năm Châu.

“Hy Lạp suy thì La Mã hưng thịnh. Sau khi học được văn minh Hy Lạp, La Mã nhờ gan dạ, bền chí và biết tổ chức, nên trở thành một Đế Quốc khổng lồ choáng hết vùng Địa Trung Hải và Âu Châu. Lập quốc ở trung bộ nước Ý ngày nay, và kiến thiết thành La Mã trước đây 29 thế kỷ. Xã hội tổ chức theo Phụ Hệ và sống trong kỷ luật rất nghiêm minh. Họ thờ lạy nhiều thần và thờ Tổ Tiên. La Mã mở rộng đế quốc sang miền Trung Đông, nhận ảnh hưởng của Đạo Thiên Chúa từ Do Thái tràn vào chính quốc, rồi lan ra khắp đế quốc La Mã vĩ đại. Vì hợp với nhận thức Độc Thần đang lên của Con Người, nên sau thời kỳ Thiên Chúa Giáo bị cấm đoán tàn sát, tôn giáo này đã vượt lên địa vị độc tôn, trùm lấn tư tưởng mọi người, khống chế luôn cả quyền thống trị các vua Âu Châu để làm chủ các lãnh địa kinh tế”. Hết Trích.

TÔN GIÁO TOÀN CẦU

Hiện nay 3 tôn giáo có tính cách toàn cầu, đã vượt ra khỏi biên giới Quốc Gia và văn minh Khu Vực, đó là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo. Nhưng đây cũng là những trở lực không nhỏ đối với tiến trình Toàn Cầu Hóa. Một đôi nơi, niềm tin tôn giáo cực đoan còn gắn liền với tinh thần Dân Tộc, Chủng Tộc quá khích để chống trả quyết liệt với công cuộc Toàn Cầu Hóa của Nhân Loại nữa. Do vậy, Thức Giả của các Tôn Giáo và của toàn Thế Giới cần phải dốc hết tâm linh, trí tuệ, tình thương, thương cho chính mình, thương cho thân phận Con Người mong manh của nhân loại, đang chịu nhiều đau khổ, trước cảnh Người coi nhau là thù địch, rồi tàn nhẫn hành hạ, đầy ải, chém giết nhau, nhân danh tín ngưỡng và tinh thần yêu nước, hay là vì những lý tưởng chủ nghĩa hão huyền, mà tìm ra những phương pháp hóa giải những xung đột đó, nhằm giải thoát cho hết thảy chúng ta và chúng sinh ra khỏi cảnh: Người đọa đầy Người. Người tàn phá Vật, hủy hoại Môi Trường Sống.

PHẬT GIÁO: Giáo chủ của Đạo Phật là Đức Thích Ca, Ngài là một thái tử, thuộc giai cấp Kastryas, dười quyền chỉ đạo tinh thần của Branhman – Ấn Giáo. Sinh vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch. Là một người cực kỳ thông minh hiếu học, hiểu biết tất cả những kinh điển của Văn Minh Vệ Đà và các học thuyết cổ đại. Nhưng Ngài không tìm thấy ở nơi đó có phương pháp nào để giải thoát cho sự khổ đau của Con Người, và giải phóng cho một xã hội Ấn Độ bị phân chia giai cấp tàn nhẫn, không tôn trọng phẩm giá Bình Đẳng của Con Người trong xã hội Loài Người. Ngài từ bỏ vương vị, thoát ly gia đình đi tu khổ hạnh, mưu tìm đao giải thoát khổ đau. Nhưng vẫn như đáy biển mò kim. Cuối cùng Ngài tọa thiền tại gốc Bồ Đề, tự tìm về chính mình, với niềm tự tin vô biên, tự do vô hạn, tự chủ vô cùng, rồi vui vẻ nhẹ nhàng xả bỏ tất cả những gì mình đã chấp giữ xưa rầy trong tâm thức, đã làm cho “cái Ta trong Ta” mỗi ngày thêm lớn mạnh, tham, sân, si chất ngất trong tâm tư, che mờ Giác Tính. Chỉ khi Giác Tính hiển lộ, mới làm cho Thân Tâm an tịnh, Hơi Thở nhẹ nhàng, Suy Tư đại định, Trí Tuệ bừng sang, Từ Bi rộng mở, chứng đạo Giác Ngộ Giải Thoát cho chính mình và hướng dẫn nhân loại, chúng sinh thoát kiếp khổ đau ở đời này, và thoát nghiệp luân hồi ở muôn kiếp.

Như vậy, Đạo Phật Giải Thoát không phải tìm ở đâu xa, mà phải tìm ở chính nơi Tâm mình. Vì thế, mà phương pháp truyền phổ Đạo Phật là đi thẳng vào Tâm Tư mỗi người, chứ không nhờ vào Thế Quyền hoặc Thần Quyền. Nên Đức Phật không lập Giáo Hội trung ương, không củng cố Giáo Quyền như các tôn giáo khác, mà chỉ lập ra các Tăng Đoàn tự do đi khắp nơi hoằng dương chính pháp. Lấy Con Người làm Cứu Cánh. Với phương châm “khế cơ, khế lý”, tùy duyên ứng xử, cho hợp thời, hợp thế, hợp với long người, không phân biệt đẳng cấp chính trị, hay giai cấp xã hội, khoặc khác biệt văn hóa, dân tộc, chủng tộc. Do đó, Phật Giáo là tôn giáo có tính Toàn Cầu không phân biệt và kỳ thị tôn giáo, mà là Đạo khai phóng cho tâm tư mỗi người tự chứng đạt Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn. Đến thời Đại Đế Asoka, năm 268-232 trước Dương Lịch, sau khi thống nhất Ấn Độ, ông theo Phật Giáo, tổ chức thêm một kỳ đại hội kết tập kinh điển Đạo Phật nữa, rồi thành lập các Tăng Đoàn cho đi hoằng dương ngoài xứ Ấn. Một trong số các Tăng Đoàn này đã đến đất Việt, có thể vào thời Nhà Thục, năm 258-207, hay đầu thời Nhà Triệu năm 207- 111, trước Dương Lịch, lập cứ địa tu học và hành đạo tại vùng Kinh Bắc thuộc Băc Ninh ngày nay, ở phía Bắc sông Hồng, đối diện với thành Cổ Loa, nằm ở phía Nam Sông Hồng. Từ đấy, Nguồn cội Nhân Chủ Việt dung hóa với Biện Chứng Nhân Chủ Phật, trở thành nền tảng Văn Hóa Việt Nam. Vì cả 2 đều lấy Con Người làm Cứu Cánh.

THIÊN CHÚA GIÁO: Dân Tộc Do Thái tin tưởng mãnh liệt rằng: Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra trong dòng họ của mình. Vì họ được Sấm Truyền nói, họ là dân riêng của Thiên Chúa. Đến khi Chúa Jésus xuất hiện, tự nhận mình là Đấng Cứu Thế, Ngôi Hai của Thiên Chúa. Theo Ngài thì Ngôi thứ Nhất là Cha, Ngôi thứ Hai là Con, Ngôi thứ Ba là Thánh Thần. Ba ngồi cũng chỉ là Một Thiên Chúa, mà Ngài là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, xuống trần thế làm Người, và Ngài thường rao giảng: “Loài Người là anh em với ta, cùng là con cái Thiên Chúa. Nên phải thương yêu nhau. Như Thiên Chúa đã yêu thương Loài Người”. Chúa Jésus đã làm thay đổi tính khí, hình ảnh nghiêm khắc và nặng tay trừng phạt của đấng Yahvé – Chúa Trời của Do Thái Giáo, thành một Thiên Chúa nhân từ suối nguồn thương yêu của Thiên Chúa Giáo. Như vậy, trong mỗi người đều có Thiên Chúa Tính. Đây là nguyên nhân chính khiến Do Thái Giáo, nộp Ngài cho Đế Quốc La Mã, đóng đinh Ngài trên Thâp Tự Giá. Cả dân Do Thái cho đến nay vẫn không công nhận Ngài là Đấng Cứu Thế do Chúa Trời gởi xuống cho họ.

Thực tế thì Tín Lý Thiên Chúa Giáo là tổng hợp quan niệm Thượng Đế sáng tạo Vũ Trụ của Dân Tộc Do Thái, vào với quan niệm Hồn Thiên Bất Tử ở nơi mỗi người của Văn Minh Ai Cập. Như vậy, Con Người có một Linh Hồn Hằng Sống. Nếu sống lương thiện ở đời này, sẽ đươc về nước hằng sống trên Thiên Đàng. Còn sống Độc Ác ở thế gian thì sẽ bị phạt xuống Hỏa Ngục đời đời. Ai ai cũng muốn lên Thiên Đàng được hưởng phúc vĩnh hằng. Chẳng ai muốn xa xuống Hỏa Ngục bị lửa thiêu đót vĩnh viễn. Nhờ thế, mà Nhân Loại cũng bớt làm ác đi nhiều. Tóm lại các chính giáo đều đề ra các hình thức Thưởng, Phạt một cách nghiêm minh để giữ cho Con Người bớt xa đọa, ăn ngay, ở lành, hợp với Đức Hiến Sinh và Công Bẳng của Thiên Nhiên.

Sau khi Chúa Jésus bị chết trên thập tự giá, các môn đệ của Ngài chia nhau đi truyền giáo khắp nơi. Pierre cầm đầu một nhóm đi thẳng vào Đế Quôc La Mã để truyền bá Tôn Giáo thờ Đức Chúa Trời, ngược hẳn với tôn giáo Đa Thần và thở Tổ Tiên của La Mã. Nên đã bị nghiêm cấm và sát hại tàn bạo suốt 3 trăm năm. Nhưng tín ngưỡng Duy Thần đã đáp ứng đúng nhu cầu tâm linh và nhận thức của người dân khắp các nước Âu Châu. Nên năm 312, Hoàng Đế La Mã Constantine, sau khi thống nhất toàn bộ Âu Châu, muốn yên lòng dân, ông đã chính thức công nhận Thiên Chúa Giáo là Công Giáo của toàn Đế Quốc. Năm 313, ông triệu tập Hội Đồng Giám Mục toàn cõi để thành lập Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Hoàng Đế La Mã trực tiếp cử ra Giáo Hoàng lãnh đạo Giáo Hội. Mãi tới năm 1059, địa vị thống trị của Hoàng Đế suy vi, Hội Đồng Giám Mục mới có quyền chính thức bầu lên Giáo Hoàng. Tiếp tới, năm 1096, các nước Âu Châu bị Hồi Giáo tấn công. Giáo Hoàng tổ chức binh đội Thánh Chiến để chống trả.

Từ đấy, Chúa Jésus được chính thức tôn lên làm “Vua trên các Vua”, Giáo Hoàng và Giáo Hội dựa vào đó trở thành lãnh đạo các Vua Chúa Âu Châu, làm chủ luôn nền kinh tế nông nghiệp. Các Giám Mục, Linh Mục trở thành lãnh chúa từng vùng, sống xa hoa, trụy lạc như các ông hoàng bà chúa xưa. Phong trào phản kháng Giáo Quyền bùng nổ. Giới trí thức đòi tự do tư tưởng. Vào thế kỷ thứ 15 phong trào phục hưng văn nghệ bừng lên, tràn sang triết học. Rồi kết hợp triết học vào với tôn giáo, theo gót Saint Augustin và Thomas d’Aquin thời Trung Cổ, dùng Duy Tâm Luận của Platon và Aristot để chứng minh cho tín lý Thiên Chúa Giáo. Nhưng Pomponazzi lại chủ trương dùng Duy Lý để bác khước truyền thống của Thiên Chúa Giáo. Erasme chủ trương tự do trong Tín Lý Thiên Chúa Giáo. Đòi hỏi Giáo Hội phải khoan hồng, phải tẩy uế, phải cởi mở cho tư tưởng tự do.

Từ lý thuyết rọi vào thực tế biến thành cuộc các mạng tôn giáo, tạo ra các giáo phái Tin Lành. Luther tu sĩ Thiên Chúa Giáo, trước sự quái hóa Giáo Hội, giáo sĩ sống xa hoa. Giáo Hoàng Léon X cho phép những kẻ phạm tội được dùng tiền để chuộc tội. Năm 1517, Luther đứng ra phản đối hành động phản giáo lý của Giáo Hội. Ông tuyên bố: “Dùng mọi thứ khí giới để thanh toán bọn trụy lạc ấy, rồi rửa tay bằng máu của chúng”. Ông chủ trương bãi bỏ uy quyền Giáo Hoàng, đặt quyền đó vào tay nhà Vua Chúa. Ông cho là “Ý chí của Chúa thể hiện nơi miệng của vua chúa”. Thuyết của ông dẫn tới chế độ Quân Chủ Chuyên Chế. Ngược lại Calvin, nhà trí thức Pháp, quyết tâm phục hưng tư tưởng trong tín lý Thiên Chúa Giáo, sống trung thành với đường lối của Platon là hòa hợp Duy Lý vào với quan niệm Thần Linh. Chủ trương bãi bỏ Giáo Sĩ, thần thánh không cần thờ bắng hình ảnh, không tin Đức Jésus thể hiện trong bánh, rượu. Calvin dựa vào lý trí, mở mang kiến thức soi đường cho Con Người tiến thẳng tới Thượng Đế, không cần tới trung gian là Giáo Sĩ hay Vua Chúa. Ông cho “Ý chí Thiên Chúa nằm trong ý thức Con Người”, Nên ông chủ trương Chế Độ Dân Chù Tự Do. Mở đường cho nước Hoa Kỳ thành lập nền Dân Chủ Cộng Hòa sau này.

Sau phong trào Cách Mạng Tôn Giáo, Nữ Hoàng Anh Elizabeth tổ chức Thiên Chúa Giáo Anh Quốc, tách khỏi Vatican. Phong trào triết học Âu Châu nở rộ vào thế kỷ 17-18: Francis Bacon lập thuyết Duy Thực Nghiệm, được Descarte thành lập Phương Pháp Suy Luận, nhằm giải quyết mọi vấn đề nhận thức từ Duy Tâm, tới Siêu Hình. Malebranche, Leibniz, Berkeley lập phái Duy Tâm Chủ Quan. Hegel dùng biện chứng pháp để chứng minh cho thuyết Duy Tâm Khách Quan. Condillac thành lập hệ thống Duy Cảm Giác, mở đầu cho thuyết Duy Vật của Feurbach xuất hiện. Kant lập thuyết Nhị Nguyên, dung hòa cả hai phần Lý Tính lẫn Kinh Nghiệm. Thế rồi các nhà lập thuyết chính trị Dân Chủ như Voltaire, Jean Jacque Rousseau, Montesquieu cùng xuất hiện, vận động cho cuộc cách mạng Dân Chủ tại Pháp 1789, nhưng cách mạng bị ‘đẻ non’ dẫn tới cảnh tranh quyền tàn hại lẫn nhau, khiến cho chính quyền rời vào tay Tướng Napoleon Bonapartre. Năm 1804, ông lên ngôi Hoàng Đế, tái lập Đế Chế.

Giữa hoàn cảnh đại loạn trong tình trạng thoái bộ của Phong Trào Dân Chủ, trước thực trạng phản bội và bảo thủ, Schopenhauer 1788-1860, cho ra đời Quan Niệm Giải Thoát. Kierkegaard 1813-1855, đặt nền tảng cho Phong Trào Hiện Sinh. Ngược lại August Comte 1787-1858 thành lập hệ thống Duy Thực chỉ đạo cho cuộc Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền 1848, cũng bắt đầu tại Pháp. Nhưng sau đo nó bị biến thái thành Phong Trào Thực Dân đi xâm chiếm Thuộc Địa, mà xã hội vẫn sa lầy trong trạng thái bất công: Tư Bản Man Rợ bóc lột Lao Động trong nước, và bóc lột các Dân Tộc nhược tiêu. Nên các Học Thuyết Xã Hội của Saint Simon, Louis Blanc, Proudhon tiếp tục ra đời, nhằm đả phá Tư Bản, nâng đỡ Vô Sản, để Karl Marx tổng hợp thành Ý Thức Hệ Duy Vật Công Sản, Đoạt chính quyền ở Nga 1917 và làm chủ một nửa Thế Giới. Đây là một tai học khủng khiếp nhất cho Nhân Loại. Giết chết hang Tram Triệu người nhiều hơn 2 cuộc chiến tranh Thế Chiến I và II. Mãi tới năm 1962, người cầm đầu Giáo Hội Thiên Chúa Giáo, Giáo Hoàng Gioan XXIII triệu tập Cộng Đồng Vaticano II, dứt khoát đưa Thiên Chúa Giáo về nguyên vị Thần Quyền độc lập với Thế Quyền, tách Giáo Hội ra khỏi Chính Quyền. Cấm các Giáo Sĩ không được tham gia hoạt động Chính Trị. Trả Tu Sĩ về cho Dân Chúng, sau gần tròn một Ngàn năm, kể từ năm 1059. Thời mà Giáo Hoàng là Vua trên các Vua Âu Châu.

HỒI GIÁO: Sau khi tiếp xúc với Do Thái Giáo và Thiên Chú Giáo ông Mohammed thành lập Hồi Giáo vào thế kỷ thứ 7. Hồi Giáo chỉ thờ vị thần duy nhất là Allah toàn năng tối thượng, điều khiển Vũ Trụ và Con Người. Mohammed tự nhận mình là vị Tiên Tri lớn nhất do Thượng Đế Allah gửi đến cho Thế Giới. Nội dung chính trong Kinh Koran, theo tiên tri Mohammed thì: “Mỗi người phải phục tùng ý muốn của Chúa Allah, không thể cưỡng được, lúc chết phải chịu sự phán quyết của Chúa Allah về đức tin và công tội của mình. Mỗi người phải tôn trọng quyền tư hữu của người khác. Phải yêu mến Cha mình và không nhận người khác làm cha. Phải tin tưởng tuyệt đối vào tiên tri Mohammed và không được nhận kẻ khác là tiên tri. Đàn Ông có quyền với Đàn Bà, nhưng phải trung thành với luật hôn phối. Đối với kẻ Nô Lệ không được hành hạ chúng, vì chúng đều là nô lệ của Chúa”. Bốn điều mà người Hồi Giáo phải giữ: 1- Mỗi ngày cầu nguyện 5 lần. 2- Trước khi cầu nguyện phải tắm rửa. 3- Trong đời ít nhất phải đi lễ ở La Mecque một lần. 4- Cấm uống rượu và ăn thịt heo. Những người phạm tội, ngoài việc Chúa Allah nghiêm trị ở đời sau, còn bị người đời đánh bằng roi và ném đá.

Hồi Giáo là một tôn giáo cực vi, đi thẳng vào thực tế đời sống, hơn là phần siêu hình của Tôn Giáo. Tiên tri Mohammed có khí phách của một Đại Đế độc tài hơn là một Giáo Chủ nhân từ. Mohammed luôn đòi phần thắng về mình. Kẻ nào không tuân hay chống lại tiên tri Mohammed đều bị giết. Quan trọng hơn hết Mohammed đã thiết lập ra một Tôn Giáo Đàn Ông. Phụ Nữ đều là nô lệ của phái Nam. Người Chồng có quyền tuyệt đối với Vợ, Con. Nên được quyền Đa Thê, miễn là phải giữ đúng luật Hồi Giáo. Sức mạnh của Hồi Giáo là Nam Giới. Đây là động lực chính khiến cho Đế Quốc Hồi Giáo trở thành dũng mãnh và quá khích. Do đó, ảnh hưởng của Hồi Giáo bành trướng rất dữ dội ở thời Trung Cổ. Họ chiếm trọn vùng Trung Đông và Bắc Phi, rồi tràn vào lục địa Âu Châu. Ở đây, họ gặp phản ứng quyết liệt của Thiên Chúa Giáo. Giáo Hoàng La Mã lãnh đạo toàn thể các nước Âu Châu thành một Lực Lượng Thánh Chiến – Thập Tự Chinh. Chiến tranh kéo dài từ năm 1096 đến năm 1720, Hồi Giáo bị loại khỏi Âu Châu.

Nhưng họ vẫn tiếp tục bành trướng về hướng Đông, chiếm cả vùng Tiểu Á lẫn Trung Á. Tuy nhiên nội bộ của họ bị phân hóa thành nhiều Giáo Phái, quân đội dàn ra quá mỏng, Họ đã bị Ấn Độ Giáo đẩy lui. Khi tiến vào vùng Đông Nam Á, Họ chỉ còn là nhà truyền đạo chứ không còn là một Đế Quốc bành trướng nữa, Vì thế, các nước theo Phật Giáo, hay Đạo Nho không phải là đất dụng võ của Hồi Giáo, nên họ đã xuống vùng biển Đông Nam Á, bám trụ ở Mã Lai và Nam Dương, nơi chưa có Tôn Giáo lớn nào hiện diện. Tại vùng Việt Nam họ đã trở thành Tôn Giáo chính của Chiêm Thành, nhưng Chiêm Thành đã sát nhập vào Việt Nam nên Hồi Giáo ở đây chẳng có là bao. Đến thời Thực Dân. Hồi Giáo bị Thực Dân thống trị. Các nước Thực Dân đã vẽ lại bản đồ các quốc gia Trung Đông, khiến cho các sắc tộc Ả Rập và các giáo phái Hồi Giáo bị đảo lộn. Họ không được sống chung trong một nước có cùng một Dân Tộc, một Giáo Phái, khiến họ không còn sức đề kháng nữa. Hiện nay họ đã chọn con đường Thánh Chiên Khủng Bố Toàn Cầu, Với long thù hận truyền thống đối với nước Do Thái, Thiên Chúa Giáo và người Da Trắng chất ngất. Họ chủ trương chuyên về phá hoại và ôm bom tự sát, nhằm đẩy các cường quốc da trắng bị rơi vào thế lo sợ thường xuyên, mà bó tay vô kế khả thi. Chỉ mong rằng trong Thế Giới Hồi Giáo có một cuộc Cách Mạng Phụ Nữ, để quân bằng Nam, Nữ trong một chế đọ Tự Do Dân Chủ, mới hy vọng thay đổi đươc tình thế.

THẾ LỰC TOÀN CẦU

Bước đầu tiên trong tiến trình Toàn Cầu Hóa là, giới Thương Buôn đóng tàu lớn vượt đại dương đi tìm đất lạ. Nhờ đó, Giáo Sĩ Tôn Giáo có điều kiện, vượt biên cương quốc gia đi truyền đao ra toàn cầu, một công việc làm hết sức thánh thiện. Nhưng đến Bước thứ hai thì đầy oan khiên do Phong Trào Thực Dân đi chiếm thuộc địa, bóc lột các nước Nhược Tiểu. Một số nơi, như trường hợp Việt Nam: Người Pháp đã nhân danh việc cứu các nhà truyền giáo Đạo Thiên Chúa, bị triều đình Nho Giáo ở đây cấm đạo giết hại, để đem quân chiếm đoạt, đặt ách thống trị lên dân tộc Việt Nam. Vì quyền lợi do Thực Dân mang lại cho chính quốc, đã là miếng mồi thơm, lôi kéo các nước tiên tiến u Châu vào cuộc tranh giành Thuộc Địa mở ra cuộc Đệ Nhất Thế Chiến 1914-1918. Về phía Hoa Kỳ, ngày 23/12/1913 Quốc Hội Mỹ thông qua luật về Cục Dự Trữ Liên Bang. Ngày 16/11/1914, Cục Dự Trữ Liên Bang gồm 12 khu vực Ngân Hàng Tư Nhân, đi vào hoạt đông. Nhà nước Mỹ trao quyền in tiền và điều phối Thị Trường cho Cục Dự Trữ Liên Bang đảm trách, đương nhiên vẫn do nhà nước Mỹ tấn phong Chủ Tịch quỹ này và thường xuyên kiểm soát. Nhưng Quyền Lực Tài Phiệt Ngân Hàng đã trở thành thế lực siêu đẳng tại nước Mỹ và trên toàn cầu kể từ đó. Ngày 06/04/1917, Mỹ nhập cuộc chiến tranh, giúp phe cựu Thực Dân thắng trận Đệ Nhất Thế Chiến. Nhưng cũng từ đó, Tổng Thống Hoa Kỳ, Tomas Woodro Wilson quyết tâm thực hiện công cuộc Giải Thực. Do nhu cầu chiến tranh, các ngành khoa học kỹ thuật bùng nổ, nhất là kỹ nghệ chiến tranh của Mỹ.

Bước thứ ba, cũng vẫn mục đích trên, Adolf Hitler khai thác tinh thần Chủng Tộc Độc Tôn của nước Đức, Liên Minh với 2 nước Ý và Nhật lập thành Trục Phát Xít, tiến đánh Âu Châu, mở ra cuộc Đệ Nhị Thế Chiến toàn cầu 1939-1945. Để chống lại với phe Phátxit: Đức, Ý, Nhật, phe Đồng Minh: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Hoa thành hình. Cầm đầu cuộc chiến này là Hoa Kỳ. Kết thúc chiến tranh phe Đồng Minh chiến thắng phe Phát Xít. Cuộc chiến chấm dứt bằng 2 quả bom Nguyên Tử của Mỹ thả xuống Nhật Bản. Thế Lực Phát Xít hoàn toàn bị xóa sổ trên thế giới. Bước thứ tư: Bất ngờ Mỹ đã quyết định chia cho Cộng Sản Liên Sô một nửa nước Đức và một số nước Đông Âu, trước sự ngỡ ngàng của Thủ Tướng Anh, Churchill. Kể từ đấy Liên Sô được nâng lên hàng cường quốc nguyên tử, trở thành thế lực Đối Đầu với Hoa Kỳ trong cuộc Chiến Tranh Lạnh. Cùng lúc đó, Mỹ viện trợ tái thiết các nước Âu Châu và toàn Thế Giới chống Cộng, kể cả 2 cựu thù của Mỹ là Tây Đức và Nhật Bản, để sau này họ trở thành các cường quốc kinh tế. Đồng Đô La Mỹ lên ngôi làm chủ nền Tài Chánh Quốc Tế kể từ đó.

Quay sang Á Châu. Vì chủ trương Đồng Minh với Cộng Sản Liên Sô để chống Phát Xít, nên Hoa Kỳ đã buộc Trung Hoa Dân Quốc của Thống Chế Tưởng Giới Thạch phải thực hiện giải pháp “Quốc Cộng Đề Huề” với Đảng Cộng Sản của Mao Trạch Đông, chỉ có như thế, Hoa Kỳ mới giúp cho Trung Hoa chống Phát Xít Nhật. Trong khi đó Cộng Sản Trung Hoa đang bị vây hãm ở khu Diên An nhỏ xíu. Tất nhiên Tưởng Thống Chế không chịu, ông quyết dứt điểm phe Cộng trước khi đánh Nhật. Nhưng rồi ông bị tư lệnh quân khu Bắc Kinh, Trương Học Lương cầm giữ, buộc ông phải chấp nhận giải pháp Quốc Cộng Đề Huề của Mỹ. Mao Trạch Đông và Cộng Sản Trung Hoa sống sót, tràn vào lục địa. Năm 1941, Hồ Chí Minh, (Có thể đây chính là viên Thiếu Tá Hồ Quang của Tình Báo Sở Trung Cộng, đội danh Nguyễn Ái Quốc), xuống Hoa Nam hoạt động, lập ra Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội, bị an ninh Trung Hoa Dân Quốc bỏ tù. Sau được mấy lãnh tụ Quốc Gia Việt Nam chỉ nghe tên Nguyễn Ái Quốc, mà không biết mặt, xin với Tưởng Thống Chế tha ra vào ngày 09/08/1944. Từ đó họ Hồ được tư lệnh Trung Hoa, Tiêu Văn và Trương Phát Khuê dùng. Họ Hồ hợp tác với Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của các ông Nguyễn Hãi Thần, Hồ Học Lãm, Trần Trung Lập… Họ Hồ xin về lập chiến khu chống Nhật tại Việt Nam, được bộ lệnh Trung Hoa chấp thuận.

Hồ Chí Minh thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh. Nhằm tuyên dương chính nghĩa Giải Phóng Dân Tộc, tranh đấu Độc Lập cho Việt Nam. Nhờ cứu được 2 phi công Mỹ bị Nhật bắn rớt máy bay, nhân đó họ Hồ xin gặp thiếu tướng quân báo Mỹ tại Trung Hoa, Claire Chennault cho tiếp kiến. Chính từ cuộc gặp này, Mỹ đã dùng Hồ Chí Minh làm chỉ điển viên cho Mỹ tại Việt Nam và võ trang cho Việt Minh cướp chính quyền từ tay Chính Phủ Trần Trọng Kim của Triều Đình Bảo Đại đã được Phát Xít Nhật trao trả chủ quyền cho Việt Nam. Ngày 11/03/1945, nhà Vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam Độc Lập.

Vấn nạn lịch sử được đặt ra là liệu Mỹ có biết Hồ Chí Minh và Việt Minh là Cộng Sản hay không? Cam đoan là họ biết rất rõ. Nhưng với chủ trương quyết liệt Giải Thực, ngay trước khi nước Mỹ dấn thân vào cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, mà Mỹ không thể trực thiếp chống lại các nước Anh, Pháp là Đồng Minh cật ruột của mính, họ phải mượn tay thế lực đang lên là Quốc Tế Cộng Sản. Việc Mỹ dùng Hồ Chí Minh ở Việt Nam chống Thực Dân Pháp, và sau này chia một nửa Âu Châu cho Cộng Sản Liên Xô, cho thấy rõ thâm ý và viễn kiến của lãnh đao Hoa Kỳ. Chính thứ viễn kiến quỷ quái này, đã đẩy Việt Nam vào cảnh chiến tranh triền miên ngay sau khi Đệ Nhị Thế Giới chấm dứt. Chính cuộc Dân Tộc Kháng Chiến tại Việt Nam đã làm cho các nước như: Anh, Bỉ, Hòa Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… thấy không thể duy trì thuộc địa được nữa, nên đã lần lượt trao trả Độc Lập cho các Dân Tộc bị trị. Nước Anh đáp ứng cuộc tranh đấu Bất Bạo Động của Thánh Gandhi, trao trả Độc Lập cho Ấn Độ năm 1947. Chỉ có nước Pháp vì mê muội, phải nuốt mối nhục là Thua Trận tại Điện Biên Phủ. Năm 1954 Viêt Nam bị chia đôi. Miền Bắc thuộc Cộng Sản chịu sự lãnh đạo của Liên Sô, Trung Cộng. Miền Nam thuộc Quốc Gia, dưới ảnh hưởng của Mỹ. Ngày 25/04/1956, tại Sài Gòn, quân đội viễn chính Pháp cuốn cờ về nước, đánh dấu việc Phong Trào Thực Dân Thế Giới chấm dứt. Giấc mơ Giải Thực của tổng thống Mỹ, Tomas Woodro Wilson, đã thành hiện thực.

Việc Trung Cộng chiếm trọn Hoa Lục năm 1949 đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc chiến và vận mệnh Việt Nam, Năm 1950, Hồ Chí Minh, cùng với Mao Trạch Đông sang gặp Stalin tại Mạc Tư Khoa. Hồ Chí Minh không được đón tiếp như một nguyên thủ Quốc Gia, mà chỉ là một tên tay sai của Stalin. Bị Stalin lên án là hữu khuynh. Buộc phải nghe lệnh Mao Trạch Đông để thực hiện cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Năm 1951, đảng Cộng Sản Việt Nam phục hoạt với cái tên là Đảng Lao Động Việt Nam để chuẩn bị cho cuộc cải cách ruộng đất, do cán bộ Trung Cộng trực tiếp chỉ đạo. Đây đúng là một biến động “long trời nở đất” không phải chỉ với số sinh mạng hàng vạn người Việt Nam vô tội bị giết, mà là Truyền Thống Văn Hóa và Chiếc Nôi Độc Lập Dân Tộc của Việt Nam là hệ thống Tự Quản Làng Xã bị Cộng Sản tiêu diệt, do chủ trương “Đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần Trí, Phú, Địa Hào vốn là những yếu tố chính trong việc xây dựng hệ thống Làng Xã Tự Quản, Tự Chủ, Tự Túc của Việt Nam. Năm 1956, tại đại hội đảng Cộng Sản Liên Xô lần thứ 20, Khrushchev hạ bệ thần tượng Stalin, khiến Mao Trạch Đông chống đối quyết liệt chủ trương Xét Lại của Liên Sô. Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam mắc kẹt ở giữa, trong nội bộ Cộng Sản Việt Nam nổi lên phe Xét Lại và chống Xét Lại. Thế nên Hồ Chí Minh phải vội vàng phát động cuộc xâm lăng miền Nam, nhằm kéo cả Liên Sô lẫn Trung Cộng phải vào làm nhiệm vụ quốc tế giúp Bắc Việt tiến đánh Miền Nam.

Cuộc chiến Quốc-Cộng giữa 2 miền Nam, Bắc Việt Nam còn được tuyên xưng là cuộc chiến Ý Thức Hệ giữa Thế Giới Tự Do và Cộng Sản Quốc Tế. Nhưng những người cầm súng của ngoại bang bắn giết nhau, thù hận nhau lại là người Việt Nam, để không mang lợi ích gì về cho dân chúng và Dân Tộc Việt Nam. Tội nghiệp nhất là Nam Việt Nam bị rơi vào thế bị Tự Vệ. Trong khi đó, Người Việt Nam chỉ là công cụ cho một trò chơi chính trị lớn của các Thế Lực Quốc Tế. Như trên đã trình bày, Hoa Kỳ đã sử dụng Cộng Sản Việt Nam vào công việc chống Thực Dân Pháp. Lần này Hoa Kỳ lại dùng Việt Cộng vào công việc “Dùng Cộng Diệt Cộng”. Nhưng đau đớn nhất là Quốc Dân Việt Nam vô tội bị đem ra làm vật tế thần cho cuộc chiến thắng Cộng Sản Quốc Tế của Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do. Với mưu mô quỷ khốc thần sầu. Thiên hạ vẫn cho rằng nước Mỹ đã thua trận tại Việt Nam. Nhưng thực tế thì nhờ cuộc chiến Việt Nam, Mỹ đã kéo Trung Cộng về phía mình, đã đẩy Trung Cộng vào thế chống Liên Sô.

Ngày 08/03/1965, Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng Việt Nam, nhằm Mỹ Hóa cuộc chiến Việt Nam. Một năm sau, ngày 05/08/1966, Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách Mạng Văn Hóa, dùng Hồng Vệ Binh tiêu diệt phe thân Liên Sô. Năm 1971, Mỹ đẩy Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc cho Trung Cộng vào thay thế, giữ luôn chiếc ghế Thường Trực tại Hội Đồng Bảo An, ngang hàng với Mỹ, Anh, Pháp và Liên Sô trên chính trường quốc tế. Năm 1972, Tổng Thống Mỹ Nixon gặp Mao Trạnh Đông tại Bắc Kinh, Ngày 28/02/1972, Nixon và Chu Ân Lai ký kết bản thông cáo chung Thượng Hải “Mỹ Hoa Đề Huề”. Chiến tranh Việt Nam làm xong nhiệm vụ. Ngày 27/01/1973 Hiệp Định Paris về Việt Nam được ký kết, để cho quân đội Mỹ rút ra khỏi chiến trường Việt Nam. Nhưng quân đội Cộng Sản Bắc Việt vẫn còn hiện diện tại miền Nam, mà Mỹ giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam. Trong khi đó Việt Cộng tiếp tục đánh nhau với Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cho tới khi Mỹ chấm dứt viện trợ.

Ngày 30/04/1975, Việt Cộng tiến vào Sài Gòn sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ bay ra khỏi không phận Việt Nam. Mỹ đã quẳng lại ‘một khúc xương’ Việt Nam để hai con thú hung dữ Liên Sô và Trung Cộng tranh ăn. Cuối cùng Liên Sô tự tan vỡ vào năm 1990 khi Grosbachev từ tổng bí thư Liên Sô thành tổng thống Liên Bang Nga, Liên Sô bị giải thể, đảng Cộng Sản bị giải tán. Trung Cộng bám Mỹ để phục hồi kinh tế và củng cố độc tài. Thế lực của Cộng Sản Quốc Tế biến mất, các nước Đông Âu được giải thoát. Nước Nga hiện nay chi là một quốc gia “độc tài khoác áo Dân Chủ”, Tổng Thống Putin đang đưa nước Nga trở về với mộng Đế Quốc Dân Tộc Đại Nga. Lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa hiện nay là Tập Cận Bình cũng đang nuôi mộng phục hồi Đế Quốc Dân Tộc Đại Hán. Đây là 2 thế lực Dân Tộc Cực Đoan Bành Trướng, đang đe dọa anh ninh, hòa bình 2 vùng Âu và Á, cộng với thế lực Hồi Giáo Thánh Chiến Khủng Bố Toàn Cầu, mà Thế Lực Hoa Kỳ đang hợp tác với quốc tế để đối phó.

Share this post