Văn Hóa Tính – Lý Đại Nguyên (Phần 3)

Văn Hóa Tính – Lý Đại Nguyên (Phần 3)

(TVVN.ORG) XÃ HỘI THỜI NHẬN THỨC NHÂN VĂN

Xã Hội Người mở rộng ra tầm vóc Thế Giới. Khởi đầu là những con tầu lớn vượt đại dương bao la của các nhà thám hiểm. Tiếp đến là các thương thuyền của nhà buôn. Kế đó là các đoàn quân viễn chinh chiếm thuộc địa. Để rồi các nước có kỹ thuật cao, lao vào chém giết loại trừ nhau để tranh đoạt thuộc địa. Sự tranh giành đó lại được nâng cao ý nghĩa lên thành cuộc chiếm đoạt toàn cầu bằng Ý Thức Hệ Cộng Sản đại đồng hoang tưởng, mà nhân loại đã bị trả giá đắt cho sự ngây thơ cả tin của mình, bằng sinh mạng của trăm triệu người chết oan,

Sau sự sụp đổ của Chủ Nghĩa Xã Hội toàn cầu hoang tưởng của Cộng Sản, làm cho tất cả các ý hệ một chiều, sản phẩm của ý chí, ý thức chủ quan khép kín đang bị mất thế đứng độc tôn, vì Con Người hết dám tin tưởng tuyệt đối như xưa nữa. Tất cả mọi tư tưởng, mọi giá trị của tư tưởng đều đang được Nhận Thức của Con Người làm cuộc tổng duyệt xét toàn diện.

Đồng thời do ý thức được sự tự do tư tưởng nơi mình là hết sức quan trọng, cho sự lựa chọn ngay trong thực tại cuốc sống, lẫn những giá trị tâm linh siêu việt, để mình tự chủ vươn tới, nên Con Người cần nâng cao phẩm giá của chính mình, bằng sự thật tâm tôn trọng tự do tư tưởng, cũng như lựa chọn của người khác, còn đúng hay sai thuộc về trách nhiệm tự thân mỗi người. Vì Con Người có Tự Do, được Tự Chủ là lập tức phải chịu Trách Nhiệm về sự lựa chọn và quyết định của mình. Đó chính là sự hình thành của lối Nhận Thức Toàn Diện của Con Người hiện nay.

Nhờ phương tiện di chuyển mau lẹ, thông tin thần tốc chính xác, địa cầu bị thu nhỏ lại, con người từ khắp nơi trên mặt đất này, nhìn thấy nhau, nghe được tiếng nói nhau trong cùng một lúc, những biến cố thiên nhiên, chính trị, hoạt động kinh tế được lên truyền thanh, truyền hình và mạng lưới điện toán thường trực suốt ngày đêm, đến độ nếu muốn biết giá cả một thứ hàng nào đó, hiện ở đâu, đắt rẻ ra sao? Đều được trả lời thật chính xác.

Như vậy, sinh hoạt của Con Người trong Xã Hội toàn diện hiện nay, đang tiến tới mức Thị Trường Toàn Cầu Hóa và Dân Chủ Hóa Toàn Cầu, tùy ở khả năng và kiến thức của mỗi người đạt được đến mức nào. Ngoài lãnh vực khoa học kỹ thuật đã bứt phá giới hạn của các rào cản tự nhiên. Lãnh vực kinh tế tài chánh cũng đang tiến tới cảnh toàn cầu hóa một cách nhịp nhàng quy mô, vượt ra khỏi biên giới của các Quốc Gia. Các nước trong một khu vực dù giầu hay nghèo, đều đang có nhu cầu và khuynh hướng kết thành các Khối Kinh Tế Chung, giầu thì để giầu thêm, nghèo thì để chung sức làm cho nhau cùng giầu, hòng theo kịp với đà phát triển của toàn cầu hóa.

Kỹ thuật đã chắp cánh cho kinh tế tiến lên tới chỗ tự động điều hợp mức phát triển toàn diện toàn cầu hóa. Thế nhưng để bảo vệ cho sự phát triển đó không bị loạn động, sụp đổ thì phải cần tới luật lệ. Hiện nay luật lệ chặt chẽ nhất đều dựa trên nền tảng của từng Quốc Gia. Bất cứ công ty nào, dù dưới danh nghĩa là đa quốc gia, thì những nhà tài phiệt vẫn là người bị luật pháp nước họ ràng buộc, vì nước họ có bổn phận phải bảo vệ cả về an ninh nhân thân và tài sản cho họ trong dịch vụ đầu tư ở nước ngoài.

Chính vì vậy mà vai trò quốc gia hết sức quan trọng trong sinh hoạt kinh tế, cho dù đó là Kinh Tế Toàn Cầu Hóa. Các cường quốc kinh tế hiện nay đang loại bỏ hẳn chủ trương bảo hộ mậu dịch ra khỏi chính sách quốc gia của họ. Tất cả đều thấy rằng: “Cô lập là tự sát”. Thế nên các tổ chức như Mậu Dịch Thế Giới-WTO – Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế-IMF – Ngân Hàng Thế Giới-WB – càng ngày càng có vai trò lớn hơn trong sinh hoạt kinh tế toàn cầu. Các nước đều tuân theo một ước lệ chung, là cùng nhau thỏa hiệp một luật lệ Mậu Dịch, Cấp Viện, Cho Vay. Rồi trao cho các tổ chức WTO, IMF, WB theo đó mà áp dụng. Các nước giầu thì góp nhiều trong các tổ chức tài chánh quốc tế, lẽ dĩ nhiên tiếng nói của họ sẽ mạnh cân xứng với đóng góp của họ. Đây cũng là một khích lệ của Kinh Tế Thị Trường Tự Do. Và khẳng định rằng: Dù kinh tế sinh hoạt trong Cấp Vùng, hay Toàn Cầu, thì tính cách quyết định lại vẫn tùy thuộc ở luật pháp, chính sách của từng Quốc Gia, tự đặt trong các Công Ước Quốc Tế, do chính các Quốc Gia Chủ Động ký kết.

Tổ chức Xã Hội trong thời đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn này, đã do nhu cầu hòa bình phát triển mà định hình, định tính, đi từ Con Người là Nhân Chủ: Tự Do Tự Chủ Sáng Tạo, ra tới liên hệ tình cảm ruột thịt là Gia Đình: Mái Nhà Tư Hữu Hạnh Phúc, gắn bó với nhau trong lịch sử Quốc Gia: Dân Chủ Tự Do Công Lý, kết hợp phát triển trong Cấp Vùng: Kinh Tế Thị Trường Thịnh Vượng, để tiến tới một Thế Giới: Nhân Chủ Tự Do Điều Hợp Hòa Bình Phát Triển.

VĂN HÓA CHÍNH QUYỀN

Văn Hóa vừa là nền móng, vừa là nội dung, vừa là hướng vươn lên của Con Người, của lịch sử Dân Tộc và Thế Giới. Chính Quyền có nhiệm vụ nhất thời là nối kết, lãnh đạo, tạo điều kiện cho Con Người xây dựng, bảo vệ, phát huy đặc tính Dân Tộc, tiến tới kiến tạo một Thế Giới Dân Chủ, Tự Do, Điều Hợp, Hòa Bình, Phát Triển. Đây không còn là mơ ước của các vị Chân Nhân của Loài Người từ ngàn xưa nữa, mà đang là nhu cầu thực tại của Nhân Loại sống giữa Thế Giới hôm nay.

Các nhà Văn Hóa của Nhân Loại, gồm các bậc Giác Ngộ như Đức Phật, Đấng Christ, Bậc Tiên Tri, các vị Chân Sư Đạo Học Minh Triết, các Văn Nhân Thi Sĩ…đều cùng biểu hiện Tâm Linh Trí Tuệ của mình ra, để hướng dẫn Con Người trên con đường đi lên xây dựng cuộc sống đep, đúng, lành và luôn luôn mới, nhằm cùng kiến tạo một Xã Hội Người, thánh thiện, nói lên đầy đủ Văn Hóa Tính.

Nhưng những tư tưởng thánh thiện minh triết đó, đều vì trình độ ý thức của đại khối người còn quá thấp kém hạn hẹp, nên chưa theo kịp, phần khác lại bị những kẻ có quyền lực trong tay, thường chỉ biết sử dụng như một phương tiện tinh thần, dùng vào việc khống chế niềm tin của Con Người, khiến Con Người ngoan ngoãn trở thành những bầy tôi trung thành, phục vụ cho kẻ nắm được quyền lãnh đạo xã hội.

Chính vì thế mới có hiện tượng Văn Hóa phục vụ cho Chính Quyền, vốn là thế lực nhất thời làm hư năng lực trường cửu. Khiến kỷ cương Văn Hóa bị đảo điên, bị ngắt ra từng đoạn. Xã Hội đọa lạc. Chính Quyền biến thành tà quyền bá đạo. Chung cuộc nạn nhân vẫn là Con Người. Những đường hướng tốt đẹp, tích cực khai mở Tâm Thức Con Người, nhằn phục vụ Loài Người của các bậc Chân Nhân Thượng Trí, chỉ còn là giấc mơ giữa cuộc sống khổ đau, đầy đọa lừa dối, bóc lột, tra khảo, chém giết lẫn nhau.

Thế nên, lời khuyên đúng nhất, chân thật nhất vẫn là lời của bậc Toàn Giác: “Mỗi Người tự thắp đuốc lên mà đi”. Khi đuốc linh tuệ từ tâm mỗi người đã tự thắp sáng, tức là đã nhìn ra được chính tự thân mình: Có Quyền Tự Do, có Trách Nhiệm Tự Chủ và có Năng Lực Sáng Tạo, mới ý thức được chính mình, phải làm chủ lấy mình, trách nhiệm về mọi hành vi của mình, và nhận ra Con Người là Nguyên Nhân của Lịch Sử Loài Người.

DANH TỪ THUỞ BAN ĐẦU

Thực ra, ngay từ khi Nhân Loại chập chững biết sống cuộc sống quần tụ, thoát khỏi cuộc sống Mặc Thức Nhân Nhiên, bước vào cuộc sống Ý Thức Nhân Loại, thì Con Người đã tự nhiên tuân theo tập quán, sau đó là tin tưởng, mà phân công trong việc dìu dắt Bộ Tộc.

1- Chăn dân, chiến đấu kiếm sống trong thực tế thuộc quyền Tộc Trưởng hay còn gọi là Tù Trưởng.

2- Giao tiếp với Trời, Thần, Ma, Quỷ thiêng liêng, chữa bệnh, gìn giữ tập tục, thuộc quyền các Pháp Sư, hay có nơi gọi là Phù Thủy, Ông Đồng, Bà Cốt.

Đây là những nét phác thảo thô sơ về đầu mùa của cuộc sống Ý Thức Người. mà đây cũng là sự phân công rất hợp lý do nhu cầu cuộc sống đòi hỏi. Phần tinh thần Chỉ Đạo thuộc quyền Pháp Sư. Phần thực tế Lãnh Đạo, thuộc quyền Tộc Trưởng. Cả 2 đều tin dựa vào Thần Quyền mới có mạng số thực quyền đối với con dân. Sau này gọi đó là Văn Hóa Chỉ Đạo, hay Giáo Quyền hướng dẫn tâm linh và Chính Quyền Lãnh Đạo, hay Thế Quyền cai trị xã hội.

Nhưng càng ngày Ý Thức Người càng biến thiên, nặng về tranh cướp quyền lực cá nhân, nên hai lãnh vực Chỉ Đạo và Lãnh Đạo luôn luôn muốn lấn vượt nhau. Cuộc sống càng trở nên gay gắt, tranh giành mỗi lúc một quyết liệt, thì khuynh hướng độc quyền càng có cơ hội lớn mạnh. Rồi gom hai thứ thành một. Bắt thứ này phục vụ cho thứ kia, hay ngược lại, khiến cho cuộc sống Ý Thức Nhân Loại gặp không biết bao tai ương cho đến giờ này vẫn chưa hết.

VƯƠNG QUYỀN VÀ VĂN HÓA

Khi Loài Người chính thức sinh hoạt trong cảnh sống Ý Thức Nhân Loại, thì các Quốc Gia Phong Kiến cũng thi nhau xuất hiện. Lúc đó Loài Người thực sự sống bằng ý thức tôn thờ người hùng chiến tranh. Quyền Lực Quốc Gia trong tay kẻ chiến thắng. Kẻ chiến thắng tối hậu làm Vua. Vua là Con Trời làm chủ nhân ông tuyệt đối của Quốc Gia. Dân thuộc quyền sở hữu của Vua. Quần Thần, có nơi cả các Thầy Tư Tế, Tu Sĩ, Đạo Sĩ, cũng đương nhiên là bầy tôi của Vua. Tức là Văn Hóa phải phục vụ Vương Quyền.

Có những nước thuộc thời cổ đại như Ai Cập, Trung Hoa, Vua là đại diện Thượng Đế, hay chính là Con Trời. Bởi thế việc tế Trời nhà Vua đảm nhận, Vua kiêm cả việc sắc phong các vị Địa Thần, Nhân Thần để cho dân chúng thờ kính. Vua cũng cử ra các quan trông coi việc tế tự. Tóm lại quyền thiêng liêng Vua cũng thu vào tay, nói chi đến Văn Học, Nghệ Thuật. Thứ gì đẹp ý Vua, thì được trọng dụng, phát huy, thứ gì không thích thì cấm chỉ.

Thời đó các nước phong kiến theo chế độ Con Trời này, thường là các Đế Quốc dữ tợn. Còn ở các tiểu quốc thì vẫn hiền lành trong sự phân công giữa Vương Quyền và Giáo Quyền. Nếu ở nơi còn tình trạng Đa Thần thì giới Văn Nhân, Đạo Sĩ được tôn quý, ngay nhà Vua cũng nể vì. Riêng các Tiểu Vương Quốc trong lục địa Ấn Độ thì đều đặt giới tu sĩ Ba La Môn lên thành đẳng cấp thượng đẳng trên Vương Quyền. Lục địa Ấn Độ không thống nhất bằng Vương Quyền Đế Quốc, mà lại thống nhất qua Giáo Quyền Bà La Môn. Đến thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, Đại Đế Asoka, 268-232 trước TL, đùng binh đội thống nhất nước Ấn. Sau đó ông theo Đạo Phật, xiểng dương tinh thần Từ Bi, áp dụng vào việc cai trị, có nghĩa là lấy Đạo Phật làm Quốc Giáo cho cả Đế Quốc. Nhưng bản chất Đạo Phật là Đạo Giải Thoát không thích ứng với việc cầm quyền thống trị. Chinh vì vậy, mà sau thời đó, Đạo Phật bị đánh bật khỏi lục địa Ấn Độ, Ba La Môn Giáo lại trở về nguyên vị toàn thống cho tới nay.

ĐẾ QUỐC VÀ VĂN HÓA

Lục địa Trung Hoa, sau thời Xuân Thu, Chiến Quốc, nhà Hán thống nhất được đất nước, lúc ấy Đạo Khổng đã phổ cập trong giới sĩ phu. Với thuyết chính danh, định phận, theo trật tự Trời, Đất, Người. Vua Tôi, Thầy Trò, Cha Con, Chồng Vợ, Anh Em, hết sức mạch lạc, nghiêm ngặt. Làm bầy tôi thì phải tận trung với Vua. Học thành tài để thờ vua, giúp nước. Những nguyên tắc đó rất thích hợp cho việc trị nước, an dân, củng cố Vương Quyền tuyệt đối. Nên Hán Võ Đế 140-87 trước Tây lịch, dùng thuật cai trị của Pháp Gia, kết hợp với Đạo Khổng để chủ đạo cho triều đại Nhà Hán. Khổng Tử được tôn thành Vạn Thế Sư Biểu. Đạo Nho thành kỷ cương của chế độ, dùng vào việc giáo hóa dân chúng và mở mang Đế Quốc. Ảnh hưởng khắp miền Á Đông, kéo dài tới hai ngàn năm, dù nhiều triều đại đã thay đổi, nhưng Nho Gia đại diện cho Văn Hóa Trung Hoa, trước sau vẫn lệ thuộc Vương Quyền.

Suốt thời gian dài trên 300 năm, Đạo Kitô bị cấm đoán, tàn sát tại La Mã, nhưng tín lý của Đạo đã đáp ứng với tâm thức Con Người thời đại, nên Đạo Chúa Kitô đã phát triển rất mạnh trong dân chúng bị trị ở khắp các Vương Quốc Âu châu. Năm 312, Hoàng Đế La Mã Constantine thống nhất toàn bộ Âu Châu, nhà vua hiểu được rằng: Muốn thực sự nắm trọn được tư tưởng và niềm tin của dân Châu Âu, thì phải dùng tới Đạo Chúa Kitô làm Công Giáo để chủ đạo cho sinh hoạt Đế Quốc. Thế nên, ngay năm sau 313, hoàng đế chính thức công nhận Kitô Giáo là đạo của toàn Đế Quốc La Mã. Rồi năm 314 triệu tập Hội Đồng Giám Mục toàn cõi, sắc phong Giáo Hoàng, thành hình Giáo Hội La Mã. Mãi tới năm 1059, Giáo Hội La Mã mới độc lập với vương quyền, thành lập Hội Đồng Hồng Y Giáo Chủ để bầu lên Giáo Hoàng lưu truyền tới nay.

Một khi Giáo Quyền đã thành lập, thì luôn luôn bền vững hơn Thế Quyền. Cho nên, Giáo Quyền nhiều lúc vượt hẳn lên trên Thế Quyền, để nắm quyền lãnh đạo Đế Quốc. Nhất là khi các Hoàng Đế Lamã suy yếu. Cuộc tranh giành quyền bính giữa Giáo Quyền và Thế Quyền kéo dài cả ngàn năm. Dù khi các nước Âu Châu đã không còn công nhận quyền lãnh đao của Hoàng Đế Lamã nữa, nhưng vẫn phải cần tới việc xin được Giáo Hoàng Lamã tấn phong cho vương hiệu, thì mới được chính thức đăng quang. Vì toàn thể các nước Âu Châu đền nhìn nhận Giáo Hội Kitô là Công Giáo.

TƯ SẢN VÀ VĂN HÓA

Từ thời Văn Nghệ Phục Hưng thế kỷ 15, phong trào văn nghệ bừng lên, tràn qua lãnh vực triết học, nhắn vào cải cách tôn giáo. Những tư tưởng của các hiền triết Platon, Aristot và hầu hết các nhà Đạo Học: Duy Thần, Duy Lý, Duy Tâm, Duy Vật thời Hy Lạp cổ, đều được đánh thức dậy, để khẳng định vị thế ưu việt của Văn Hóa. Một cuộc Cách Mạng Tôn Giáo chính thức bùng nổ. Mở đấu năm 1517, linh mục Kitô Giáo là Lurther, khởi xướng cuộc chống lại quyền hành của Giáo Hoàng La Mã. Ông cho rằng : “Ý chí của Thượng Đế được đặt nơi Vương Quyền”. Ông được vua chúa nhìn nhận là Giáo Chủ của đạo Tin Lành. Năm 1533 nhà đại trí thức Calvin cũng chống lại quyền lực của Giáo Hoàng La Mã, nhưng ngược lại với Lurther, Ông cho rằng: “Ý chí Thượng Đế được đặt nơi Ý hướng Dân Chúng”. Ông cũng được nhìn nhận là Giáo Chủ Tin Lành Đại Chúng. Chính Tân Giáo của Calvin đã mở mùa cho Ý Thức Tư Sản Dân Quyền.

Cuộc truy quét các Tân Giáo tại Âu Châu, mỗi ngày mỗi gay gắt, nên những giáo phái này đều có khuynh hướng, bỏ quê hương Âu Châu, để sang lập nghiệp tại Tân Thế Giới – Mỹ Châu – Chính nhờ tinh thần Tự Do Tư Sản Dân Quyền, vốn là tư tưởng căn bản của Đạo Tin Lành, mà sau này khi Hoa Kỳ thoát khỏi sự thống trị của Đế Quốc Anh, năm 1776, tháng 4, ngày 7, đã tuyên bố Độc Lập, thành lập nền Cộng Hòa: Tư Do Tư Sản Dân Quyền đầu tiên trên Thế Giới, rồi từng ngày, từng giờ không ngừng đổi mới, để có được nền tảng Đa Văn Hóa, một chế độ Dân Chủ Trọng Pháp, và hệ thống Kinh Tế quy mô có tính Toàn Cầu Hóa như hiện nay.

Trong khi đó thì cuộc Cách Mạng Dân Quyền 1789, rồi cuộc cách mạng Tư Sản 1848 tại Pháp, đã không may mắn như ở Mỹ, nó đã bị lớp Phong Kiến, rồi Tư Bản cực quyền làm cho đọa lạc đi. Biến các nước Dân Chủ non trẻ trở thành các Quốc Gia Thực Dân đi chiếm thuộc địa ,và tranh giành thuộc địa với nhau. Gây ra không biết bao nhiêu thống khổ cho Nhân Loại. Bất công làm ung thối Xã Hội, đào thêm xấu hổ chia cắt Giầu, Nghèo, làm phát sinh ra cuộc đấu tranh Giai Cấp. Tạo điều kiện cho Phong Trào Cộng Sản lớn mạnh, đoạt đươc chính quyền tại Nga năm 1917.

VÔ SẢN VÀ VĂN HÓA

Khi đã gọi là Giai Cấp Vô Sản, thì bản chất của họ đã là lớp người cùng khổ trong xã hội, ăn còn khó có, nói chi đến học. Một Người có Văn Hóa thì không học tại trường, cũng phải suy tư tự học. Lớp Vô Sản thực tế đã thiếu hai điều kiện vừa nêu, thì làm thế nào mà có Văn Hóa cho được.

Sở dĩ đặt vấn đề Văn Hóa với cuộc Cách Mạng Vô Sản, vì lớp Triết Gia ảo tưởng, lớp tranh đấu Xã Hội không tưởng, đã “sáng tạo” ra một hệ thống lý luận chủ quan, duy ý chí, một chiều, khép kín: Duy Vật Biện Chứng, Duy Vật Sử Quan, Duy Vật Cộng Sản. Hận Thù Giai Cấp. Đấu Tranh Sắt Máu. Triệt tiêu Quyền Tự Do Tư Tưởng, Quyền Tự Do Tư Hữu. Triệt tiêu Gia Đình, Tôn Giáo, Tổ Quốc và mọi giá trị Văn Hóa truyền thống ngàn đời của các Dân Tộc, để xây dựng một Thế Giới Đại Đồng không biên giới, không giai cấp v.v.. Chủ trương trên vốn dĩ đã phi văn hóa, mà lại dùng lớp vô sản, vô văn hóa làm đội ngũ tiền phong, thì họ chỉ có khả năng hủy diệt chứ làm sao kiến tạo nỗi một Xã Hội Người yên lành tiến bộ trên thế gian được.

Mà thực vậy, phong trào cộng sản đã tiến lên như vũ bão trong đấu tranh, nhưng lại hoàn toàn thảm bại trong xây dựng, điều đó khẳng định rằng: Cộng sản đã thiếu Nền Móng, Nội Dung và Hướng Tiến của Xây Dựng, đó là Văn Hóa. Nên chỉ tồn tại trong nhất thời, nhờ vào biện pháp Khủng Bố có tổ chức quy mô sắt máu, và kiểm soát bao tử đối với Dân Chúng đã vào tròng, và tuyên truyền lừa đối với những người bên ngoài. Bởi vậy, khi Dân đã Hết Sợ, Người đã Tỉnh Thức thì cộng sản bị Sụp Đổ là cái chắc. 1990 – 1991 Đông u và Liên Xô sụp đổ đã là một bằng chứng hiển nhiên.

THỜI ĐẠI NHÂN CHỦ NHÂN VĂN

Sau thời Liên Sô tan vỡ, hầu như về mặt tư duy, nhân loại bị rớt vào một khoảng trống, tất cả đều thấy những gì cộng sản ra công phá hủy, nay đang dần dần phục hoạt trở lại, phục hoạt với một dáng vẻ ể oải, hết còn hăng say tin tưởng, như thời còn phải cố công, gắng sức, liều chết duy trì trong bóng tối của sự đe dọa. Có nghĩa là về mặt Nhận Thức Tư Tưởng, Nhân Loại chỉ muốn quên đi dĩ vãng hãi hùng do một thứ nhận thức chủ quan, đẩy lên thành Hệ Thống Tư Tưởng Duy Vật, được cộng sản sử dụng như một cùm xích vô hình trói buộc Con Người, tàn hại mọi giá trị đích thật của Văn Hóa. Thế nên, phần chủ đạo cho sự phát triển, cứ để tự nhiên cho nhu cầu thực tế, tự thích ứng, tự phản ứng.

Trong khi đó thì những chuyển biến thực tế Kinh Tế và Khoa Học lại bước đi những bước thật dài khó lòng kiểm soát. Các tổ chức Tài Chánh Quốc Tế như: Ngân Hàng Thế Giới – WB – Quỹ Tiền Tệ Quốc tế – IMF – Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới – WTO – và Chính Phủ của các nước kỹ nghệ phát triển hàng đầu – G7+1 tới G20, mặc nhiên được đặt vào vị thế Điều Hợp Nền Kinh Tế Thế Giới. Tất nhiên, những quyết định của các nước có ảnh hưởng lớn trong các Tổ Chức Quốc Tế trên, phải nghĩ tới lợi ích kinh tế của Quốc Gia họ trước đã. Cũng may là tình trạng kính tế Thế Giới buộc các nước phải ở thế Liên Lập, tiến tới Toàn Cầu Hóa. Thế nên, các nước giầu, các công ty tài chánh mạnh, cũng phải có cái nhìn chung về sự phát triển của các nước nhỏ, cũng như giới công nhân và người tiêu thụ. Đây là Nhu Cầu Điều Hợp phải có của sinh hoạt Thế Giới thời đại.

Tiếp sức với sự Điều Hợp mặc nhiên phải có trong sinh hoạt Kinh Tế Toàn Cầu Hóa, ngành Truyền Thông đã và đang được những công trình “khoa học sáng tạo” tăng cường cho khả năng thông tin mau lẹ, rộng khắp, chính xác, tỷ mỉ về mọi vấn đề, mọi sinh hoạt của mọi nơi, đến với mọi người. Khiến cho Thế Giới sinh động sôi sục, khiến cho Nhân Loại thấy gần nhau hơn, Toàn cầu như thu nhỏ lại, mà những mâu thuấn cá biệt cũng thấy rõ nét hơn. Thêm vào đó, những phương tiện di chuyện mau lẹ tối tân, đưa Con Người đến gần nhau, giúp cho Nhận Thức của Con Người về Thế Giới thu hẹp lại dễ cảm thông và chia xẻ những khó khăn với nhau hơn..

Nhưng vế mặt Chính Trị xem ra còn quá chậm chạp, Thế giới tuy đã có tổ chức Liên Hiệp Quôc, nhưng tổ chức quốc tế này được thành lập sau Thế Chiến 2 với bản chất đế cao Quyến Dân Tộc Tự Quyết, nhằm chống lại tàn dư của phong trào thực dân, nhất là lại rơi vào cuộc Chiến Tranh Lạnh, nên thế giới bi chia là 2 giới tuyến Tự Do và Cộng Sản. Mà Cộng Sản Liên Xô là thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, chính vì vậy các bên đều dùng quyến phủ quyết để giữ thế mạnh, và quyền lợi của mình, bởi vậy Liên Hiệp Quốc trở thành bù nhìn. Sau khi Liên Xô sụp đổ, thì các chính phủ độc tài ở các nước chậm phát triển, hay đang phát triển, và các nước còn tự nhận là Xã Hội Chủ Nghiã, đều nhân danh quyền Dân Tộc Tự Quyết không cho nước ngoài và Liên Hiệp Quốc can dư vào việc vi phạm nhân quyền, đàn áp người dân nước họ. Dù họ có chân trong LHQ và đương nhiên phải tôn trọng Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyến của tổ chức này, và các Công Ước Quốc Tế mà họ đã ký . Cuộc khủng hoảng tài chánh –1997- tại Á Châu, đã quật ngã một số nước hung hăng phát triển mạnh về Kinh Tế Thị Trường, mà lại duy trì nền Chính Tri chuyên đoán, dưới hình thái “Chế độ Gia Trưởng khoác áo Dân Chủ”. Tùy tiện xử dung quyền hành để ban bố các đặc ân, đậc quyền, đặc lợi, nhất là trong lãnh vực tài chánh. Các nước mắc vào những nhược điểm trên, hết thảy đều bị trả giá, cho tới khi kiện toàn được Nền Dân Chủ Trọng Pháp mới yên.

Thế nên, nền Chính Trị Dân Chủ Trọng Pháp, vừa là Nhu Cầu của dân chúng mỗi nước, vừa là Điều Kiện để Kinh Tế Thị Trường Tự Do phát triển,vừa là Niềm Tin cho Giới Đầu Tư Quốc Tế, vừa là Cơ Hội để mỗi Quốc Gia chủ động hội nhập vào tiến trình Toàn Cầu Hóa kinh tế. Không thực hiện Dân Chủ Hóa cho mau lẹ, để chủ động sinh hoạt trong Thế Giới, thì cũng có nghĩa đi ngược lại với trào lưu diễn hóa của lịch sử, chắc chắn bị đào thải. Lẽ đương nhiên chỉ có các Chính Quyền Độc Tài ngoan cố phi văn hóa, mới không chịu Dân Chủ Hóa mà thôi.

Tới đây có thể khẳng định được rằng: Chỉ có các Chính Quyền độc tài chuyên đoán, thiển cận, mới ôm chủ trương dùng Văn Hóa làm phương tiện khống chế tư tưởng toàn dân, bắt Con Người làm nô lệ cho một lý tưởng, một chủ nghĩa, một tín ngưỡng… Mà cụ thể là phải thần phục chính quyền chủ nhân của những thứ đó, nói khác đi là lợi dụng những thứ gọi là giá trị tinh thần đó làm công cụ khống chế tư tưởng Con Người. Nguy hiểm hơn nữa, hành vi như vậy, còn làm mất giá trị đích thật của Văn Hóa đi. Khiến cho tính cách phổ quát của Văn Hóa biến mất, chỉ còn lại là thứ lý tưởng của Chủ Nghĩa, của Tín Ngưỡng, của đảng, của chính phủ, của phe này nhóm kia, chứ không còn là của Con Người, của Toàn Dân nữa.

Thời đại đang buộc mọi thế lực phải trả Văn Hóa về cho Con Người, cho Toàn Dân. Chính quyền có trách nhiệm phải tạo điều kiện tối ưu để nâng cao Dân Trí, tạo cơ hội cho dân tiếp thu và phát huy Văn Hóa, Đồng thời tôn trọng lắng nghe ý kiến tự do của mổi người dân, vì họ mới thực là Chủ Nhân của Đất Nước, của Thế Giới. Khi nâng cao trình độ Văn Hóa nơi Con Người, cũng có nghĩa là đưa Văn Hóa vào làm Nội Dung cho mọi lãnh vực, mọi ngành nghề, mọi sinh hoạt Quốc Gia và Quốc Tế. Đặt Văn Hóa đúng vị trí và thế cách Chủ Đạo, Chỉ Đạo phải có.

Đến đây, vị thế của các Văn Hóa Nhân phải được đặt ra. Bỡi lẽ, thế nào cũng sẽ xuất hiện, và cần phải được tạo điều kiện cơ hội cho họ xuất hiện. Hiển nhiên họ không phải do bất cứ quyền lực nào tạo ra, mà phải do chính họ tự khẳng định bằng: Tài Đức, Trí Tuệ, Công Trình và những Đóng Góp cho sự đi lên của Con Người, của Xã Hội, được công luận đại chúng nhìn nhận. Những sáng kiến, những ý kiến đúng cho phúc lợi dân chúng, cho hòa bình thịnh vượng Đất Nước là sự Chỉ Đạo cần thiết cho các Chế Độ. Khi trình độ dân trí đã trưởng thành, thì việc nhận ra đâu là những Văn Hóa Nhân chân chính, và những mạo nhận chắc không khó.

Khi Con Người ý thức được giá trị Nhân Chủ tự thân, cùng nhau chủ động xây dựng một cuộc sống Nhân Văn, tức là cuộc sống của Con Người thuộc về Người luôn luôn Sáng, Đẹp, Tốt, Lành, Yên, Vui Thịnh Vượng và Thăng Hóa không cùng, thì đây chẳng còn là mơ ước, mà là Nhu Cầu của Con Người, của Thế Giới Người hiện nay về Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn của mình. Vì đó là bước đường của Lịch Sử đang tới, sau khi đã vượt qua những chặng tăm tối, khốc liệt, nguy hiểm, từ bước Mặc Thức Nhân Nhiên, qua Ý Thức Nhân Loại đang tới Nhận Thức Nhân Văn, để thể hiện Nhân Chủ Đạo ngay trong cuộc sống nội tâm của mỗi người, cuộc sống chung với tha nhân, và cuộc sống hướng thượng cùng tất cả.

VĂN HÓA CHÍNH TRỊ

Với nền Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại, thì Văn Hóa vừa là nền móng, vừa là nội dung, vừa là hướng vươn tới Chân, Thiện, Mỹ, luôn luôn thăng hóa của Con Người, của lịch sử Dân Tộc và Thế Giới. Vì thế, Chính Trị là sự suy tư, phán đoán, lựa chọn đường hướng, thế cách, hành xử của Con Người trong mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội, quốc gia và quốc tế và còn định hình cho các Chế Độ. Nên hiện nay được gọi là Dân Quyền, hay là Quyền của Công Dân mỗi Quốc Gia. Biểu hiện cụ thể quyền lực chính trị ra ở 3 lãnh vực: Tôn Giáo là Giáo Quyền. Cai Trị là Thế Quyền. Đại Chúng là Dân Quyền. Vậy, Văn Hóa là Thể của Chính Trị, mà Chính Trị là Dụng của Văn Hóa. Nên Con Người sống giữa thế giới vô thường nhị nguyên: “đúng, sai – thiện, ác – tốt, xấu…”, bắt buộc mỗi người phải có quyền tự do, tự chủ và trách nhiệm về sự lựa chọn chế độ xã hội chính trị của mình, để ứng xử với mọi đối tượng, mọi tình huống, sao cho hợp tình, hợp lý, hợp cảnh, hợp pháp, đúng với nhận thức nhân văn chung, không trái với đạo đức làm người của mình, không làm hại người, hư vật, để mỗi người thể hiện quyền làm người chân chính của mình trong cuộc sống cộng đồng xã hội loài người. Để chung sức xây dựng một Xã Hội Người Tự Do Dân Chủ trong đó quyền Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo của mỗi người trở thành cứu cánh của Lịch Sử Nhân Loại. Vì vây, người xưa gọi Chính Trị là Nghệ Thuật Thỏa Hiệp. Nay có thể gọi Chính Trị là Nghệ Thuật Ứng Xử.

Những người vì thiếu hiểu biết, hoặc vì bất cứ lý do nào đó, mà không thực hiện quyền làm chính trị của mình, tức là tự chối bỏ quyền tự do, tự chủ lựa chọn của mình, nhường cho kẻ khác quyết định vận mệnh của mình rồi đấy! Hay, có những người cho rằng: Chính trị là lãnh vực đầy ác hiểm, thủ đoạn, dối trá, lừa bịp, mánh khóe, quỷ quái, rình rập hại nhau, nên mình cần phải xa lánh. Lỗi lầm, sai trái đó là do người làm chính trị với tâm gian tà, trí quỷ quyệt đã làm sa đọa Chính Trị thành Tà Trị mà ra. Nên những hành vi sa đọa ấy phải gọi là Tà Trị chứ không thể cho đó là Chính Trị được nữa. Đã là chính trị thì tự nó phải là việc làm chính đáng, tốt lành, chân thật đem lại sự an lành cho Con Người, thịnh trị cho Quốc Gia, công bằng cho Xã Hội, hòa bình cho Thế Giới. Nó thuộc về toàn dân, là Nhân Quyền, là quyền lợi thiết thân, mà mọi công dân đều có bổn phận, trách nhiệm thi hành, đó là Dân Quyền được ứng cử và bầu cử những người đại diện mình vào các cơ quan công quyền quốc gia. Hoặc tham gia các chính đảng để tranh cử, để được bầu lên cầm quyền. Hay đóng góp công sức của mình cho các đoàn thể tôn giáo, ngôn luận, chính trị, nghiệp vụ mà mình theo. Gọi là các Tập Thể Xã Hội Dân Sự. Chính các tập thể xã hội công dân này mới là sức mạnh của toàn dân, của dân tộc để tự bảo vệ lấy giá trị tự do, tinh thần tự chủ, quyền lợi tư hữu của mỗi người trong chế độ Dân Chủ Tự Do. Nhằm giữ cho luật pháp nghiêm minh, chính quyền trong sạch, chính trị chân chính, xã hội công bằng, kinh tế phát triển, đất nước phú cường, thế giới hòa bình.

QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

Từ ngàn xưa, nhân loại đã thấm thía và bị trả giá quá đắt về những sai trái trong lãnh vực chính trị, nên mới nói: “Làm Thầy Thuốc mà sai thì giết chỉ một mạng người. Làm Chính Trị mà sai thì hại cả một đời, cả một nước. Làm Văn Hoá mà sai thì hại đến muôn người, muôn đời, và muôn nước”. Vì Văn Hóa có giá trị trường cửu, rộng lớn, là biểu hiện của “Chân Lý Tính”, là nội dung của Chính Trị và khắp mặt sinh hoạt quốc gia và quốc tế. Nó ăn sâu, bén rễ vào tâm thức Con Người thành lối sống, cách sống, nếp sống, khuynh hướng sống, truyền thống sống của mỗi Dân Tộc. Nên Văn Hóa mà sai thì Chính Trị sẽ tiếp tục sai, từ đời này sang đời khác, cho tới khi nào Văn Hóa tìm đúng chính đạo để hướng được tới Chân Lý, thể hiện được Chân Lý Tính ra trong khắp mặt sinh hoạt của đời sống xã hội, dân tộc và nhân loại.

Người xưa gọi đây là Đế Đạo, là Đạo của Chân Lý. Đạo mà các Tôn Giáo chân chính rao giảng và thực hiện những điều thánh thiện. Đạo mà là hướng của Văn Hóa vươn tới. Còn trong cuộc sống thực tế vô thường tương đối này thì lý tưởng của người làm chính trị và xây dựng cho thể chế của quốc gia là Vương Đạo, là Đạo của Dân Chủ rộng mở cho toàn dân nhằm thể hiện Dân Quyền. Người dân có toàn quyền tự do lựa chọn thể chế và người cầm quyền của mình. Đạo của các chế độ độc tài bạo trị, các đế quốc thống trị, các đoàn thể chính trị quá khích, tôn thờ bạo lực là Bá Đạo. tức là Đạo của Độc Tài khủng bố toàn trị. Còn các chế độ, chính quyền, đảng phái vừa độc tài, vừa tham nhũng, hại dân, hại nước, buôn dân, bán nước như chế độ Việtcộng hiện nay thì đó là Tặc Đạo, là Đạo của Kẻ Cướp. Ngoài ra các chế độ, các chính quyền, các chính đảng “ăn xổi ở thì”, gặp đâu làm đó, sai rồi sửa, sửa rồi vẫn sai, đó gọi là Mạt Đạo. Vậy “Chính Trị Đạo” gồm: Đế Đạo, Vương Đạo, Bá Đạo, Tặc Đạo. 2 đường chính là Đế Đạo và Vương Đạo, tức là Chính Đạo. 2 đường tà là Bá Đạo và Tặc Đạo, tức là Tà Đạo. Chính, Tà đều do mỗi người, mỗi đoàn thể, mỗi thế lực tự do, chủ động suy nghĩ, phán đoán và lựa chọn. Tất cả là ở người, do người mà chính trị trở thành tốt hay xấu.

Đã là người có trí khôn, sống giữa xã hội người thì không thể không làm chính trị, và có làm hay không cũng đều bị hệ lụy vào guồng máy chính trị cả. Khi nói tới Quyền là nói tới Quyền Lực Chính Trị. Giáo Quyền là quyền lực chính trị của Tôn Giáo. Thế Quyền là quyền lực chính trị của Chính Quyền cai trị. Dân Quyền là quyền lực chính trị của Công Dân. Nhân Quyền là quyền lực chính trị thuộc về Con Người. Đòi Nhân Quyền là đòi quyền lực chính trị của Con Người, vì Con Người, cho Con Người vậy.

Trước, nay, người đời thường lẫn lộn giữa hai lãnh vực chính quyền cai trị, với chính trị dân sự. Vẫn theo quan niệm của thời Phong Kiến, cho rằng: Chỉ có Vua, Quan cầm quyền, thực hiện chủ trương, chính sách, đường lối, thi hành luật lệ quốc gia, và những hoạt động của kẻ thống trị, hay sinh hoạt đảng phái, nhằm cướp chính quyền, mới cho đó là làm chính trị, còn dân không có quyền chính trị. Người dân trong nước là Thần Dân của Vua. Sơn Hà của Vua. Xã Tắc của Vua. Vua thay Trời trị Dân. Vua dựa vào Thần Quyền, nhân danh thần quyền để tạo ra quyền lực chính trị cho mình, cho dòng họ mình, rồi ban quyền cho quan chức để thống trị toàn dân. Dân không có quyền biết, bàn, và làm chính trị. Nhưng ở thời đại Dân Chủ Tự Do ngày nay thì, Quyền Chính Trị thuộc về Toàn Dân. Người Dân là chủ nhân ông có thẩm quyền đích thực về Quốc Gia mình. Tất cả mọi công dân đều phải làm chính trị, phải có bổn phận chính trị, phải có trách nhiệm về Sinh Mạng Chính Trị của mình và của Quốc Gia. Ý chí toàn dân tạo thành quyền lực chính trị quốc gia thể hiện qua luật pháp và chế độ. Nên phải biết suy nghĩ phán đoán để ra ứng cử, hoặc lựa chọn người đại diện mình bầu vào chính quyền. Hay quyết định gia nhập một tổ chức Tôn Giáo, Văn Hóa, Xã Hội, Nghiệp Vụ nào đó để thực hiện lý tưởng, cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đó đều là thái độ và là hành vi chính trị cả.

Ngay các tổ chức Tôn Giáo cũng không thoát khỏi chính trị. Vì không một tôn giáo nào lại không có mục đích truyền bá giáo lý, giáo pháp của mình phổ cập tới mọi người, khắp chốn. Để đem Đạo vào Đời thì phải có Giáo Hội. Có giáo hội là phải có giáo chủ, có giáo lý, có đền thờ, có tổ chức, có tu sĩ , có giáo dân, có giáo quyền, có cơ sở, có phương tiện, có chủ trương, có đường lối, có phương pháp truyền đạo. Tức là có đối nội, đối ngoại, có làm chính trị. Chỉ khác là các tôn giáo tuy có xây dựng Giáo Quyền, mà không phải là để đoạt Thế Quyền. Giáo Hội bất cứ thuộc tôn giáo nào cũng không thể trực tiếp cầm quyền cai trị, không trùm phủ lên chính quyền, bắt Thế Quyền làm công cụ phục vụ cho Giáo Quyền như khuynh hướng Hồi Giáo toàn thống hiện nay, để đẩy nhân loại vào các cuộc thánh chiến nguy hiểm. Ngược lại Chính Quyền cũng không thể lợi dụng Giáo Quyền làm công cụ cho Thế Quyền để thỏa mãn tham vọng Đế Quốc Thống Trị của mình, như ở Trung Hoa, La Mã xưa, và Cộng Sản nay.

PHÂN NHIỆM CHÍNH TRỊ

Ngay từ thời loài người vừa tiến vào cuộc sống sinh hoạt cộng đồng xã hội sơ khai, thì đã hình thành 2 lãnh vực Thế Quyền và Giáo Quyền và đều dựa vào Thần Quyền, nhân danh Thần Quyền để lãnh đạo, hướng đạo toàn dân rồi. Nên trong sinh hoạt chính trị của tập thể xã hội phôi thai đó đã được phân công, phân nhiệm một cách tự nhiên là Thế Quyền nằm trong tay Tộc Trưởng hay Tù Trưởng điều khiển, hướng dẫn Bộ Tộc, hay Bộ Lạc sinh hoạt, kiếm sống. Giáo Quyền nằm trong tay các Pháp Sư hay Thầy Cả có nhiệm vụ thiêng liêng là cầu cúng thần linh, tìm cách trị bệnh cho dân. Thế Quyền giữ phần Lãnh Đạo cai trị bộ tộc. Giáo Quyền là Chỉ Đạo tinh thần cho dân. Hai lãnh vực Tinh Thần và Thực Tế này, luôn luôn có sứ mạng linh thiêng, và thiết thân là phụng sự cho người dân và xã hội thì mới làm tròn thiên chức tự nhiên của lịch sử trao cho.

Bước vào thời thành lập Quốc Gia, thì Thế Quyền hoàn toàn nằm trong tay Nhà Vua và Triều Đình Phong Kiến để lãnh đạo, điều hành Quốc Gia. Giáo Quyền thuộc về các Tôn Giáo thờ kính Thần Linh, hay tin nhận Tâm Linh để chăm sóc, hướng dẫn tinh thần và bảo vệ đạo đức cho Toàn Dân. Thế nhưng, trong quá trình lịch sử, hai thế lực Giáo Quyền và Thế Quyền vì tham vọng độc tôn, thường rơi vào cảnh cạnh tranh lấn vượt, tiếm quyền của nhau, nhằm thống trị Quốc Dân gây ra không biết bao nhiêu cảnh tàn sát, khổ lụy cho loài người. Một khi ở Quốc Gia nào đó, Thế Quyền khống chế nổi Giáo Quyền, hay ngược lại Giáo Quyền nắm được Thế Quyền thì sẽ thành Chế Độ Toàn Thống, thường biến Quốc Gia đó thành Đế Quốc xâm lăng các nước chung quanh, đây là một thảm họa lớn đối với nhân loại.

Đế Quốc Trung Hoa. Hán Võ Đế -140 – 87 trước Tây Lịch, dùng Pháp Trị của Hàn Phi, để cho Nhà Vua nắm hết mọi quyền hành quốc gia, với chủ trương “Trung Quân Ái Quốc” “Quân xử Thần tử, Thần bất tử, bất trung”. “Trung Thần bất sự nhị Quân”, biến Vua thành nhà Độc Tài Bạo Trị. Rồi tổng hợp với nền Đạo Học Nho Giáo lấy “Tam Tài là Thiên, Địa, Nhân”. “Tam Cương là Quân, Sư, Phụ”. “Ngũ Thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, và “phương pháp Nhân Trị”của Khổng Tử làm kim chỉ nam để giáo hóa dân chúng và tuyên dương danh nghĩa Đế Quốc Đại Hán. Vì theo trật tự đẳng cấp Vua đứng trên Sư, nên Thế Quyền trùm lên Giáo Quyền, khiến ở Trung Hoa Tôn Giáo đều do Triều Đình tấn phong. Giáo Quyền không thể độc lập phát triển nổi. Theo đề nghị của Đổng Trọng Thư, Võ Đế lấy Nho Giáo làm Quốc Giáo, tôn Khổng Tử làm “Vạn Thế Sư Biểu”. Từ đó tạo ra nền Chính Trị Phong Kiến Đế Quốc Đại Hán pha trộn giữa Pháp Trị với Nhân Trị dẫn tới tình trạng cá nhân độc tôn duy ý chí bạo trị. Vượt qua thời Hán, kéo dài mãi tới ngày nay. Dù Trung Hoa đã trải qua 2 cuộc gọi là Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền 1911 của Tôn Dật Tiên, và cuộc Cách Mạng Cộng Sản Toàn Trị 1949, của Mao Trạch Đông, thì tinh thần Phong Kiến Bạo Trị, Đế Quốc Đại Hán ở giới cầm quyền Trung Hoa ngày càng quái hóa thêm.

Đế Quốc La Mã. Trên 3 trăm năm, các Hoàng Đế La Mã tàn sát Kitô Giáo từ thuộc quốc Do Thái truyền vào La Mã. Đạo Kitô của Đức Jésus càng bị cấm đoán, đầy đọa, giết hại, càng phát triển lan tràn ra khắp Đế Quốc. Hoàng Đế Constantine, muốn an dân, bình trị thiên hạ, nên năm 313 đã phải chính thức ra sắc chỉ nhìn nhận Kitô Giáo là Công Giáo của toàn Đế Quốc. Năm 314, ông triệu tập Hội Đồng Giám Mục thành lập Giáo Hội Kitô Giáo Lamã. Nhưng vị cầm đầu Giáo Hội là Giáo Hoàng phải do hoàng đế chỉ định. Như vậy là Thế Quyền La Mã xử dụng Giáo Hội Kitô làm công cụ cho Đế Quốc. Mãi tới năm 1059, Giáo Hội mới thành lập được Hồng Y Đoàn để tự bầu lên Giáo Hoàng, từ đây Giáo Hội Kitô Giáo mới củng cố được Giáo Quyền Độc Lập. Cuộc tranh chấp quyền lực lãnh đạo giữa Giáo Quyền của Giáo Hội với Thế Quyền của Vua Chúa Âu Châu liên tục nổ ra. Thế Quyền là nhất thời, Giáo Quyền là trường cửu. Giáo Hội Kitô La Mã lan truyền ra khắp thế giới. Phong trào Thực Dân theo gót các nhà truyền giáo mà mở mang thuộc điạ…Tới năm 1962, Cộng Đồng Vaticano II, mới công bố chủ trương “Đem Đạo vào Đời”. “Tách Giáo Hội khỏi Thế Quyền”. “Các tu sĩ không được nắm chính quyền và làm chính trị đảng phái”. Tức là Giáo Hội Kitô Giáo Lamã chính thức phân nhiệm chính trị giữa Giáo Quyền và Thế Quyền.

Hiện nay trên thế giới chỉ còn Hồi Giáo là theo đuổi chủ trương Giáo Quyền Toàn Thống. Tiên tri Mohammed, học từ Do Thái Giáo và Kitô Giáo, vào thế kỷ thứ 7, Ông thành lập Đạo Hồi, tôn thờ một vị Nam thần duy nhất là Allah, đấng toàn năng tối thượng điều khiển vũ trụ, vạn hữu và loài người. Đạo Hồi có bản chất Nam tính cực đoan. Ông tự nhận là vị tiên tri lớn nhất do Thượng Đế Allah gửi đến cho thế giới. Tiên tri Mohammed có khí phách của một Đại Đế, hơn là vị Giáo Chủ nhân từ sẵn sàng nhận lấy phần hy sinh về mình. Ngược lại, Mohammed luôn luôn đòi phần thắng cho mình. Ông tuyên bố: “Thánh chiến với bất cứ ai, bất cứ quốc gia nào không theo đạo Hồi”. Bởi đó, Hồi Giáo biến thành một Đại Đế Quốc, phía Tây từ Y Pha Nho, phía Đông tới sông Hằng Ấn Độ. Từ năm 1096 đến 1720, Hồi Giáo tiến vào trung tâm u Lục tạo thành cuộc Thánh Chiến với Kitô Giáo và các nước Âu Châu. Hồi Giáo bị Kitô Giáo chận ở Âu Châu, bị Ấn Độ Giáo đẩy lùi xuống Đông Nam Á rồi trụ ở 2 nước Mã Lai Á và Nam Dương. Do đó, Vua trong các nước Hồi Giáo từ xưa, nay, đều kiêm luôn chức Giáo Lãnh của Đạo Hồi.

Đến thời Dân Chủ, nhiều nước Hồi Giáo theo khuynh hướng của Thổ Nhĩ Kỳ, thành lập các chính quyền cai trị bởi chế độ thế tục. Năm 1979, Ayatollah Khomeini thực hiện cuộc cách mạng Hồi Giáo tại vương quốc Iran. Tạo lập ra một Hội Đồng Tu Sĩ Hồi Giáo Tối Cao, bao trùm lên Chính Quyền Quốc Gia, trực tiếp lãnh đạo Quốc Dân, thi hành Luật Hồi Giáo. Từ đó các phong trào Hồi Giáo Quá Khích thi nhau xuất hiện, để cổ xúy cho chế độ Hồi Giáo Toàn Thống. Nổi bật nhất là tồ chức Hồi Giáo Khủng Bố al Qaeda, do Osama bin Laden lãnh đạo. Đã áp dụng kiểu “ôm bom tự sát” của Palestine. Cướp máy bay dân sự Hoa Kỳ biến thành quả bom bay khổng lồ, lao thẳng vào và hủy diệt tòa nhà Tháp Đôi thành bình địa, ở khu trung tâm thương mại New York, và một phần Ngũ Giác Đài, biểu tượng cho sức mạnh quân sự vô địch của Mỹ. Cuộc Chiến Quốc Tế “Chống Khủng Bố” toàn diện, quyết liệt, khổ đau, đầy máu, nước mắt, tiền tài, do Mỹ cầm đầu nổ ra chưa thấy ngày kết thúc.

Trong tiến trình lịch sử nhân loại, thường thấy xuất hiện cảnh Tôn Giáo và Vua Chúa luôn luôn tranh chấp với nhau. Giáo Quyền lấn vượt Thế Quyền, hay ngược lại Thế Quyền khống chế Giáo Quyền, hoặc thế lực này lợi dụng thế lực kia, để thống trị nhân loại, đó là mối họa khủng khiếp nhất đối với thế giới. Trong cảnh khổ đau triền miên không lối thoát ấy, cũng như biết rõ Con Người phải sống trong kiếp sinh, già, bệnh, chết và đói nghèo, rét lạnh đe dọa thường xuyên. Thái tử Tất Đạt Đa, đã quyết định lựa chọn, bỏ vương vị quyền uy, thế tập, đi tu tìm đạo giải thoát. Như vậy ngay từ khởi thủy Đạo Phật đã tự chủ động tách Tôn Giáo khỏi Chính Quyền. Tách Giáo Quyền khỏi Thế Quyền. Ở thời ấy, giáo quyền Bà La Môn Giáo trùm lên thế quyền của Vua Chúa Ấn Độ. Bởi vậy, trong luật do chính Đức Phật lập ra mới có điều khoản: “Là quan chức và chưa chính thức từ quan, không được thọ đại giới Tỳ Kheo” Nghiã là Tăng sĩ Phật Giáo không được đảm nhận chức quyền, không được tham gia Thế Quyền Cai Trị. Cũng có nghĩa là Phật Giáo phải luôn luôn ở vị trí Giáo Quyền trong tư thế Văn Hóa đến thẳng với người dân, hướng dẫn dân trong tiến trình mỗi người tự tu “tự giác, giác tha, giác hành viên mãn”. Không lừa mị, cao áp, hù dọa; không làm công cụ cho chính quyền để thống trị dân; không tranh quyền, cướp nước, rồi ngụy biện cho đó như phương tiện truyền đạo, mà chỉ được dùng Đế Đạo, tức là Đạo của Chân Lý để hoằng dương chánh pháp thôi.

Chính vì thế, mà mỗi lần Phật Giáo bị đưa lên làm Quốc Giáo cho một Quốc Gia nào đấy, thì liền sau đó đều mang họa không nhỏ. Lần đầu là tại Ấn Độ, Đại Đế Asoka -268 đến -232 trước Tây lịch, sau khi dùng binh lực tàn sát các nước nhỏ, thống nhất Ấn Độ thành một Đế Quốc, ông khởi tâm hướng Phật, lấy Phật Giáo là Công Giáo cho toàn Đế Quốc, bỏ Bà La Môn Giáo vốn là tôn giáo phổ biến trong nhân gian tại lục địa Ấn Độ. Nhưng sau khi triều đại Asoka tàn, thì Bà La Môn Giáo quật khởi, đẩy Phật Giáo ra khỏi lục địa Ấnđộ, chạy lên phía Bắc trụ ở Nepal, xuống phía Nam thì trụ ở Tích Lan. Cho đến nay, xứ Ấn là quê hương của Đạo Phật, mà chỉ còn di tích Phật Giáo, chứ người theo Đạo Phật thì rất hiếm.

Lần thứ hai tại Việtnam. Vào đầu mùa tự chủ năm 968, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong Thập Nhị Xứ Quân, lên ngôi Hoàng Đế. Đinh Tiên Hoàng Đế được nhiều Tăng Sĩ Phật Giáo có tài phò trợ, nhất là về mặt ngoại giao. Nhà Vua phong Ngài Khuông Việt là Tăng Thống. Sang Thời Tiền Lê. Phật Giáo vẫn được xem như Quốc Giáo, vì tuyệt đại đa số dân Việt thời đó đều thờ Phật. Nhưng bản chất của Đạo Phật là Đế Đạo, không thích hợp ở Triều Đình Phong Kiến. Dưới thời Lê Long Đĩnh 1005-1009, Long Đĩnh giết anh để cướp ngôi, từ đó lấy việc giết người làm trò chơi. Giới Tăng Sĩ khuyên can đều bị hại. Phật Giáo gặp đại nạn.

Thời Lý Công Uẩn 1010-1225, lập ra nhà Lý. Vị cố vấn cho vua Lý Thái Tổ là Vạn Hạnh Thiền Sư mới đem Phật Giáo về đúng vị thế của mình. Tăng Sĩ Phật Giáo trở về với toàn dân, trao Triều Đình lại cho Nho Sĩ Khổng Giáo để phò vua, giúp nước. Phân định giữa Giáo Quyền và Thế Quyền độc lập mà tương trợ nhau để phụng sự dân, nước. Thực hiện cuộc Viên Dung Tôn Giáo, triển khai nền Văn Hóa Dân Tộc Dung Hóa cả ba nguồn Đạo Học Đông Phương là Phật, Lão, Khổng. Xây dựng nền Văn Hiến Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp cá biệt với hệ thống sinh hoạt hữu vi độc tôn của Trunghoa. Tư tưởng Việtnam lấy Con Người tự chủ làm cứu cánh, lấy Dân Tộc độc lập làm chủ đạo cho mọi sinh hoạt. Nói cách khác, đó chính là lối Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn mà thời đại ngày nay đang tiến tới.

Nhưng bất hạnh cho Dân Tộc, đại họa của Toàn Dân, và cũng là mối nguy đối với Thế Giới hiện nay là Dòng Sống Văn Hóa Viên Dung Tôn giáo truyền thống của Dân Tộc và cũng là hướng vươn tới của Toàn Thế Giới, đang bị chế độ Cộng Sản vô thần, vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo, phi nhân tính, phi dân tộc, phi văn hóa đã biến thái thành chế độ đạo tặc, độc tài, tham nhũng, ngu si, đang cố dìm toàn dân và đất nước vào vòng nô lệ Tầu Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Khiến cho toàn vùng Á Châu bị nằm trong vòng đe dọa thường trực của bọn Bành Trướng Bắc Kinh. Khiến cho Thế Giới bị đặt trong tình thế bất an thường xuyên. Việc phục hồi sức mạnh Dân Tộc, tinh thần độc lập Quốc Gia và ý thức tự do tự chủ của Toàn Dân Việt Nam, nhằm Dân Chủ Hóa chế độ, đó là sinh lộ của Việtnam thoát khỏi chế độ Tặc Đạo Việt Cộng và cũng tạo nổi thế Liên Minh Dân Chủ Phòng Thủ Chung đối với các nước Đông Nam Á và Thế Giới, để làm cùn nhụt khí thế Bành Trướng của Trung Cộng, có như vậy Việtnam mới thực sự được tự do, độc lập, tự chủ phát triển thịnh vượng trong hoà bình, để Quốc Gia Chủ Động hội nhập tiến trình Toàn Cầu Hóa với Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại.

VĂN HÓA TƯƠNG QUAN

Con Người hiện diện trong thế giới này, đều phải sống tương quan với tha nhân và vạn hữu, nên trong mối tương quan ấy đã tạo ra lối nghĩ, lối sống, cách sống, luật sống cuộc sống có Văn Hóa Tính, dựa trên cảm tính, tình cảm ý niệm, quan niệm, tư tưởng và hành hoạt của mỗi người trong xã hội, từ Gia Đình, Dân Tộc, Nhân Loại và Vạn Hữu. Tùy vào ý niệm và nhận thức của Con Người về Bản Thể Vũ Trụ, mà nhân loại từng nơi và tùy thời đại, biến thành niềm tin Tôn Giáo và tập quán của mỗi Dân Tộc, nên đã đặt nền tảng cho cơ sở Triết Lý Chính Trị, để dẫn tới việc Quản Trị từ Gia Đình và Xã Hội của một Nước, lên tới Quản Trị Quốc Gia, ra tới An Bài Thế Giới. Việc Quản Trị Quốc Gia chính là trung tâm vận hành Chính Trị và tạo ra hệ thống quản trị, những luật lệ cho Gia Đình và Xã Hội, cũng như cùng với các nước khác tìm sự đồng thuận An Bài Thế Giới Thời Đại.

VẬN HÀNH CHÍNH TRỊ

Từ ngày các Bộ Lạc, Bộ Tộc tập hợp với nhau để thành lập ra các Quốc Gia, thì các Thần Tổ của các Bộ Lạc, Bộ Tộc ấy, vẫn được dân chúng tôn thờ theo quan niệm riêng của mình. Tình trạng tôn giáo Đa Thần này còn kéo dài và lần lần biến thể đi, khi hầu hết các Quốc Gia Thống Nhất đều đã chọn được một vị Thần Linh Tối Cao duy nhất để tôn thờ. Như vậy trong ý niệm linh thiêng về Vũ Trụ Quan đã giúp chỉ đạo cho tư tưởng Con Người của các Quốc Gia thống nhất có đường lối Cai Trị và vận hành Chính Trị, dựa trên quán tính và ý niệm Nhất Cực Đa Nguyên.

Quan niệm về Nhất Cực xuất phát từ việc tôn thờ một vị Chúa Tể Trời Đất, Ngài nắm toàn quyền quyết định về sinh mệnh Con Người, sự thịnh suy của Dân Tộc và sự tồn vong của Vạn Hữu. Còn Đa Nguyên thời đó chỉ là sự rớt lại của ý niệm Đa Thần, chứ chưa áp dụng vào thực tế thành các khuynh hướng chính trị.. Nhưng dần dần theo cảm tính và niềm tin của dân chúng, các Nhà Cai Trị đã áp dụng thành cơ cấu cầm quyền thống trị toàn dân. Hầu như ở bất cứ chế độ Phong Kiến Quân Chủ nào ở nơi đâu trên trái đất này, cũng cùng chung một mô hình tổ chức tương tự nhau. Khác chăng là ở những nền văn minh tôn sùng Thần Quyền hay Thế Quyền nặng nhẹ mà thôi. Nơi đây chỉ xin đề cập tới các triết lý hành hoạt của 4 Nền Văn Minh còn nhiều ảnh hưởng tới thời đại này. Đó là nền Văn Minh Ấn Độ, Trung Hoa, La Mã và vùng Trung Đông Đạo Hồi.

VĂN MINH ẤN ĐỘ

Dù xứ Ấn cũng chủ trương Nhất Cực về Vũ Trụ Quan, nhưng không để cho Thế Quyền xử dụng vào việc thống nhất Quốc Gia và thống trị dân chúng, mà là nơi để thể hiện Thần Quyền toàn thống của tôn giáo Bà La Môn- Brahman. Do đó Ấn Giáo trở thành độc tôn ở xứ này. Các Tiểu Quốc nơi đây đều ở thế Đa Nguyên phụ thuộc vào tôn giáo Bà La Môn, hay còn gọi là Ấn Giáo. Đây là Nguyên Tắc Vận Hành Chính Trị: Nhất Cực Đa Nguyên quy về Tôn Giáo. Chính vì vậy mà Ấn Độ phát triển rất sớm về triết lý hành hoạt tôn giáo. Luận thuyết của 6 phái chính giáo ở Ấn Độ, dù có những quan niệm và triết lý đối nghịch nhau, cũng đều được ghi chép đầy đủ trong 4 bộ kinh Vệ Đà khổng lồ. Ấn Giáo vẫn là tôn giáo chính của Ấn Độ hiện nay.

Vị Giáo Chủ Đạo Phật, Đức Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra và tu chứng thành Đạo Giải Thoát, trong môi trường Tôn Giáo Brahman toàn thống. Ngoài việc giác ngộ về sự khổ đau của Tâm Thân mình, tất nhiên Ngài đã tự giải thoát tư tưởng mình ra khỏi hệ tư tưởng của Thần Giáo Brahman, để xiển dương trọn vẹn chân lý của Đạo Giải Thoát. Mà đã là Đạo Giải Thoát thì không còn lệ thuộc vào tín ngưỡng Thần Quyền và hệ lụy của một tôn giáo toàn thống. Chính vì thế mà Đấng Đại Giác Ngộ đã không lập ra một tôn giáo, có giáo quyền thống nhất, duy nhất, mà chỉ lập ra các Tăng Đoàn tự do thanh thản, đem Đạo Phật Giải Thoát đến thẳng với Con Người khắp nơi, để nghiễm nhiên ngày nay trở thành một Tôn Giáo Toàn Cầu. Đây là Nguyên Tắc Vận Hành Chính Trị: Siêu Cực Đa Nguyên quy về Con Người.

Đạo Phật lấy Con Người làm cứu cánh, đặt Con Người lên vị thế Nhân Chủ, quyết liệt hướng Con Người vào thế phải tự lựa chọn lấy sự Tự Do, quyền Tự Chủ, nhằm Sáng Tạo theo hướng Văn Hóa Tính. Hướng thăng hóa của Văn Hóa Tính chính là hướng giải thoát, nâng cao Trí Tuệ, mở rộng Từ Tâm, giúp cho tâm tình, tâm tư, tâm thức của Con Người tự tu, tự giác, tự tìm thấy và toàn triển Phật Tánh trong nội tâm mỗi người chúng ta. Như vậy Phật Tánh không hề là Vô Tánh, mà Tánh Không cũng chưa trọn vẹn. Còn nói là “Sắc, Sắc, Không, Không” thì phải suy tư đến trọn kiếp cũng chưa chắc đã rõ được chân nghĩa.

Phật Tánh cũng chẳng phải là Thiên Tánh, vì Thiên Tánh theo nhận thức của dân gian thường tin tưởng và cảm nhận được là Ban Phước và Giáng Họa. Còn Tánh Người thì tuy có Văn Hóa Tính, có Phật Tánh tiềm tàng trong nội tâm, nhưng đồng thời chúng sinh vẫn còn mang nặng trong tình cảm, tâm tư và suy tưởng đầy ắp những tạp niệm, tạp tính, ác tính, Tham, Sân, Si, vọng tưởng, điên đảo, gian dối, tự lừa mình, dối người. Nên vẫn còn bị chìm đắm trong vòng u mê, chưa đạt tới trình độ giác ngộ được Phật Tánh là nguồn Siêu Thức anh linh nơi Tâm mình. Mà giác ngộ là sự hiểu biết rốt ráo về sự biến ảo của các hiện tượng Vô Thường của Vạn Hữu và thân phận khổ đau của chính mình, do mình chấp giữ và tạo nghiệp. Dù vậy, trong mỗi chúng sinh đều có Phật Tánh, mỗi Người đều có khả năng tu tập Thành Phật.

Khi Con Người tu trì Phật Đạo, đã giác ngộ được Phật Tánh là nguồn Siêu Thức anh linh nơi Tâm mình, đó chính là động lực triển khai Trí Tuệ, mở rộng Từ Bi đến cảnh giới Toàn Giác cho chính mình, thì việc hội nhập với Nguồn năng lực Siêu Thể, Siêu Thức của Phật Tánh Vũ Trụ sẽ thành nhất thể. Nguồn Siêu Thức. Siêu Thể Vũ Trụ luôn luôn gia hộ, độ trì, tạo cơ duyên cho Tha Nhân và Vạn Hữu vững tin hành trì Phật Đạo. Nhất là cho Nhân Loại sớm đạt được vị thế Nhân Chủ: Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo, luôn luôn làm Đẹp, Sáng, Tốt, Mới cho Thế Giới Hằng Hóa, Hiện Hóa và Thăng Hóa này.

VĂN MINH TRUNG HOA

Hoàn toàn trái ngược với Văn Minh Ấn Độ đặt Tôn Giáo Thần Quyền lên hàng Nhất Cực, các Tiểu Quốc ở thế Đa Nguyên, còn Văn Minh Trung Hoa coi Thế Quyền Cai Trị ở ngôi Nhất Cực. Ngôi Nhất Cực cai quản trên Trời là Hoàng Thiên Thượng Đế. Thống trị dân nước là vị Hoàng Đế, cầm đầu Gia Đình là Gia Trưởng. Truyền thống Phụ Hệ nhất quán này theo hệ thống dọc từ Trời xuống tới Nước, chót hết là Gia Đình, không có đất sống cho Đa Nguyên. Tình trạng đó kéo dài tới ngày nay. Đây là Nguyên Tắc Vận Hành Chính Trị: Nhất Cực Vô Nguyên quy về Thế Quyền Cai Trị.
Truyền thống Nhất Cực Vô Nguyên được khởi đi từ Đế Khải Nhà Hạ, năm 2179 trước Dương Lịch. Thời đó người Trung Hoa đã thiết lập được hệ thống cai trị Hồng Phạm Cửu Trù, mà trung tâm của quy phạm này gọi là Hoàng Cực. Hoàng là rộng lớn bao la. Cực là duy nhất tuyệt đối. Đây là đạo trị quốc của đấng Quân Vương. Sau khi Khổng Tử (551-478 trước Tây Lịch) tham tường Dịch Lý, ông đã gia cố cho hệ thống Hồng Phạm Cửu Trù bằng triết lý vận hành chính trị là: “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng. Tứ Tượng sinh Bát Quái. Bát Quái định Quân Thần”.

Ngược lại với triết Khổng thuyết, Lão Tử cùng thời với Khổng Tử, dựa trên nguyên tắc sinh hóa của tự nhiên đơn giản cho rằng: “Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh Vạn Hữu”. Đem so sánh với nhận thức khoa học hiện nay thì quan niệm của Lão Tử rất khế hợp, như: “Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Biên Vô Hạn”, tự chuyển động sinh ra 2 nguồn năng lượng Âm Điện Tử, Dương Điện Tử, vừa bổ sung, vừa phân hóa với nhau, mà sinh ra lực thứ 3 là Trung Hòa Tử, nhằm điều hợp cho sự tồn tại của một đơn vị nguyên tử, đồng thời sẵn sàng giúp các nguyên tử mới hoàn chỉnh thành lập. Vạn Hữu sinh hóa từ đấy.

Quan niệm Nhất Cực Tam Nguyên này đã bị nhận chìm, bởi hệ thống Hồng Phạm Cửu Trù truyền thống và triết lý Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi là m và Dương, rồi trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, gọi là Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh ra Bát Quái, tám quẻ này định vị quân thần trong hệ thống cai trị. Dù rằng sau đó Mạnh Tử quyết liệt đưa ra chủ trương: “Dân vi Quý, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh”, nhưng vẫn không đi tới đâu. Văn Minh Trung Hoa cứ ì ạch trong thế cách vận hành chính trị dưới sự lãnh đạo của hệ thống cầm quyền Nhất Cực Vô Nguyên hướng về Nhất Cực Thế Quyền. Dù rằng Quốc Gia Trung Hoa đã đổi chế độ từ Phong Kiến sang Dân Chủ vào năm 1911, nhưng cách vận hành chế độ vẫn theo quán tính chính trị Nhất Cực Vô Nguyên, quyền hành tập trung vào tay cá nhân vị Tổng Thống. Đến năm 1949, Cộng Sản cai trị Trung Hoa thì rơi vào chế độ Nhất Cực Nhất Nguyên: Một đảng Cộng Sản lãnh đạo duy nhất, tuyệt đối tôn thờ lý tưởng Cộng Sản và trung thành với một Lãnh Tụ vĩ đại. Toàn dân là kẻ bị trị. Văn Minh Trung Hoa chưa có lối thoát.

VĂN MINH LA MÃ: Người La Mã thống nhất Âu Châu bằng cơ bắp và thanh gươm, trên lưng ngựa. Sức mạnh đích thực của họ là Binh Đoàn Đế Quốc kỷ luật sắt thép. Nên khi thành lập Đế Chế La Mã họ đều dựa trên luật pháp nghiêm minh phổ cập. Về mặt tinh thần, họ còn trong trạng thái Đa Thần. Tuy họ đã thâu tóm được nước Hy Lạp, kết hợp Văn Minh Hy Lạp vào với La Mã làm thành Văn Minh Hy La. Nhưng họ vẫn giữ Tín Ngưỡng Đa Thần, chỉ khác là các vị thần ấy đều có mang Văn Hóa Tính theo quan niệm Hy Lạp. Có nghĩa là thời đó, Đế Quốc La Mã vận hành chính trị bằng quán tính Vô Cực Vô Nguyên, chỉ bằng kỷ luật và luật pháp và niềm tin Đa Thần. Chính vì vậy mà khi Ky Tô Giáo đem Đạo Duy Thần Thiên Chúa vào rao giảng tại La Mã, thì Hoàng Đế La Mã tàn sát dã man. Nhưng hầu như toàn thể Dân Chúng u Châu đều tin theo Đạo Chúa, nên đến năm 313, Hoàng Đế Constantine phải công nhận Thiên Chúa Giáo là Công Giáo của toàn Đế Quốc. Năm 314 cho triệu tập Hội Đồng Giám Mục để thành lập Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Người đứng đầu Giáo Hội là Giáo Hoàng do Hoàng Đế chỉ định. Mãi tới năm 1059, Đế Quốc La Mã suy tàn, Hồng Y Đoàn của Giáo Hội mới tự bầu lấy Giáo Hoàng.

Cũng từ đây Giáo Hội Thiên Chúa trở thành thế lực điều hành chính trị cả về mặt Thần Quyền lẫn Thế Quyền, Giáo Hoàng lãnh đạo toàn thể các nước u Châu. Các Vua u Châu đều phải do Giáo Hoàng tấn phong. Ngài còn là vị Tổng Tư Lệnh lãnh đạo cuộc “Thập Tự Chinh 1096-1720” chống quân xâm lăng Hồi Giáo ở u Châu. Đặc biệt triết lý tôn giáo của Đạo Chúa vận hành theo nguyên tắc Đa Nguyên Nhất Cực trở thành Bản Thể Vạn Hữu: “Chúa Trời có Ba Ngôi, ngôi Nhất là Cha, ngôi Hai là Con, ngôi Ba là Thánh Thần, Ba Ngôi cùng một tính một phép, nên chỉ có Một Chúa Trời”. Quan niệm này đúng với Nguyên Lý sinh hóa của Vạn Hữu: Bản Thể của Vạn Vật gồm 3 nguồn năng lực “Động Tử Năng”. Động Lực tự xoắn kết Năng Lực thành các Đơn Tử vật thể, các đơn vị vật thể tự chuyển động tạo thành các nguồn Năng Lượng, rồi năng lượng tăng trưởng không ngừng, cùng tác hợp với các vật thể khác, vận hành theo nguyên tắc tự nhiên “Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp”, sinh sinh hóa hóa ra các hiện tượng Vạn Hữu trong Trời Đất không cùng.

Khi đẩy được đạo quân Hồi Giáo ra khỏi Âu Châu. Giáo Hoàng và Giáo Hội La Mã trở thành thế lực độc tôn, thống trị toàn thể các nước Âu Châu cả về mặt tinh thần lẫn thực tế. Chính vì vậy mà hàng giáo sĩ trở nên ngạo mạn, dẫn tới thảm trạng sa đọa. Khiến giới Trí Thức u Chân phải lên tiếng đối kháng. Kể từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, phong trào mỗi ngày một lên cao. Phe chống, phe binh bùng nổ. Tạo ra cao trào triết lý khắp mặt, nào là Duy Thần, Duy Tâm, Duy Vật, Duy Cảm Giác, Duy Hiện Sinh và nhiền thứ Duy khác, khiến cho suy tư và niềm tin của giới Trí Thức u Châu bị phân hóa và cực đoan quyết liệt. Giáo Hội Thiên Chúa La Mã cũng bị tách ra ba mảng. Chính Thống Giáo phía Đông. Anh Giáo phía Tây. Giáo Hội La Mã bị dồn vào thế phải mạnh tay trong phong trào đàn áp.

Nhất là từ năm 1517, giáo sĩ Luther rao giảng Đạo Tin Lành ở Đức, ở Pháp. Ông dịch và phổ biến Thánh Kinh cho dân chúng tham khảo. Ông chủ trương bãi bỏ uy quyền Giáo Hoàng, đem quyền đó đặt vào tay Thân Vương, ông cho là “ý chí của Chúa thể hiện nơi miệng của Vua Chúa”. Năm 1533 ông trốn khỏi nước Pháp, sang Thụy sĩ, ở đây ông công bố cuốn “Chế độ Thiên Chúa Giáo” với chủ trương: “Bãi bỏ giáo sĩ, thần thánh không thờ hình tượng, không tin Chúa Jésus thể hiện trong bánh và rượu”. Tại Pháp, nhà đại trí thức Calvin dựa vào lý trí mỗi Người, để mở mang khiến thức soi đường cho Con Người tiến tới Thượng Đế không cần kẻ trung gian là Giáo Sĩ hay Vua Chúa. Ông lấy ý thức làm đức tin không những về Đạo còn về Đời nữa, vì mọi sự đã do Thượng Đế an bài. Ông cho là: “Ý chí Thiên Chúa nằm ngay trong ý thức Con Người”. Nên vào thực tế ông chủ trương Chế Độ Đại Nghị Tự Do. Mở đầu cho phong trào Nhận Thức về Quyền Dân Chủ, quan niệm này được giới Trí Thức u Châu nhiệt liệt hưởng ứng.

Chế Độ Đại Nghị Tự Do này được các nhà cách mạng Pháp đem vào thực tế áp dụng. Nhưng nó mang tính cách Nhất Cực Nhất Nguyên cực đoan, nhằm tiêu diệt chế độ Vua Chúa và tiêu diệt luôn các đối thủ chính trị, Nên đã không thành công ở đất Pháp, mà thành công ở Tân Thế Giới, năm 1776, nơi người Thanh Giáo tránh đàn áp tại u Châu lập ra nước Mỹ. Còn tại Pháp thì cuộc cách mạng 1789, tuy đó là cuộc cách mạng Dân Chủ, nhưng nó là cuộc chém giết tàn bạo, khiến dân chúng hoang mang lo sợ, cuối cùng kết thúc bởi một vị tướng lãnh tài ba, Napoleon Bonapatre, lật ngược thế cuộc, tái lập nền Đế Chế, nhằm thôn tính toàn u Châu. Năm 1848, nước Pháp lại phát động cuộc cách mạng Tư Sản Dân Quyền, ảnh hưởng toàn u Châu, nhưng nó trở thành cơ hội cho giới quý tộc, và giáo sĩ giầu có lập ra các công xưởng kỹ nghệ, biến các nông nô trước kia, thành công nô, biến giới giầu có thành giới Tư Bản Man Rợ. Vừa bóc lột Lao Đông trong nước, vừa mở ra Phong Trào Thực Dân đi xâm chiếm các nước nhỏ yếu. Tạo cơ hội cho Phong Trào Cộng Sản trưởng thành.

Trong hoàn cảnh các nước Thực Dân Châu u cũ mới tranh chấp nhau, cuộc Đại Chiến Thứ Nhất nổ ra từ năm 1914 – 1918, thì cuộc các mạng Cộng Sản xẩy ra tại Nga 1917. Gây ra một tai họa vô cùng khốc liệt cho toàn Nhân Loại bởi chủ trương Nhất Cực Nhất Nguyên Duy Vật cuồng bạo sắt máu, coi Con Người như con vật lao động, buộc phải hận thù Giai Cấp, hủy diệt Văn Hóa Tính nơi Con Người, nên đã giết hại cả trăm triệu sinh linh vô tội. Nằm giữa hai gọng kìm Tư Bản và Cộng Sản, tại nước Đức, năm 1933, Hitler đã cho ra đời chế độ Quốc Gia Xã Hội gọi tắt là Quốc Xã cũng với chủ trương Nhất Cực Nhất Nguyên Phát Xít. Năm 1936, Adolf Hitler Đức liên kết với Benito Mussolini Ý và Tenno Hirohito Nhật thành Trục Phát Xít, tạo ra cuộc Thế Chiến Thứ Hai toàn cầu vào năn 1939-1945. Rồi họ bị bại trận bởi phe Đồng Minh Mỹ-Anh-Nga-Tầu-Pháp. Kết quả là Đức, Ý bị Đồng Minh tiêu diệt. Nhật bị ăn 2 quả bom Nguyên Tử phải đầu hàng.

Điều tai quái là Mỹ đã trao một nửa u Châu cho Cộng Sản Nga làm chủ, để phân chia Thế Giới thành 2 cực. Tư Bản, Cộng Sản. Hoa Kỳ lãnh đạo Thế Giới Tự Do, Liên Xô cầm đầu Thế Giới Cộng Sản, mở ra cuộc Chiến Tranh Lạnh. Về hình thái thì đây là Chiến Tranh Ý Thức Hệ. chạy đua vũ trang Nguyên Tử, Hỏa Tiễn và Không Gian. Nhưng trên thực tế thì Mỹ mượn tay Nga thúc đẩy các nước Nhược Tiểu làm cách mạng Dân Tộc để giải thể chế độ Thực Dân vốn là đồng minh của Mỹ. Điều độc địa nhất là Dân Tộc Việt Nam lại bị Mỹ chọn là quân cờ thí tiên phong trong âm mưu này. Chính Mỹ đã giúp cho tên Cộng Sản Quốc Tế Hồ Chí Minh về cướp chính quyền tại Việt Nam, rồi thực hiện kháng chiến chống Thực Dân Pháp giành Độc Lập. Chính cuộc kháng chiến dai dẳn này đã buộc các nước Thực Dân Âu Châu phải lần lần trao trả Độc Lập cho các thuộc địa.
Riêng Việt Nam thì bị chia đôi vào năm 1954. Nửa Miền Nam thuộc Quốc Gia. Nửa Miền Bắc thuộc Cộng Sản. Tạo ra cuộc chiến tranh Quốc Cộng tàn bạo giữa Đồng Bào với nhau, xem nhau như kẻ thù không đội trời chung. Cha, Con, Anh, Chị, Em ở hai bên chiến tuyến bị đẩy vào thế chém giết nhau thản nhiên. Điều đáng nói ở đây là những biến cố tại Việt Nam đã buộc đoàn quân Viễn Chinh của Thực Dân Pháp phải cuốn cờ về nước vào ngày 25/4/1956 tại bến cảng Saigon. Thế là kết thúc phong trào Thực Dân trên toàn Thế Giới. Năm 1962 tại La mã, Cộng Đồng Vaticano II được triệu tập, nhằm tách Giáo Hội La Mã ra khỏi Thế Quyền Cai Trị và Chính Trị, để đem Đạo vào Đời của người dân bị trị. Nhưng Việt Nam vẫn chưa hết tai vạ. Dân Tộc khổ đau này còn bị làm con mồi cho Cộng Sản Nga, Tầu tranh giành nhau cho tới khi Liên Xô bị sụp đổ.
Ngày 08/03/1965, Mỹ đổ quân vào Việt Nam, nhằm Mỹ Hóa cuộc chiến tranh Quốc Cộng nhỏ bé Việt Nam thành chiến tranh tầm vóc Quốc Tế. Nhưng khổng phải trên 58 ngàn binh sĩ Mỹ đã hy sinh trên chiến trường Việt Nam để giúp cho Quốc Gia Việt Nam thắng Cộng Sản, mà cuối cùng chính Mỹ trói tay Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa để cho Cộng Sản chiếm toàn bộ Việt Nam. Nhằm kéo Nga, Tầu vào cuộc Huynh Đệ Cộng Sản tương tàn, làm cho phong trào Cộng Sản Quốc Tế tan biến. Chiến Tranh Lạnh kết thúc, nước Mỹ trở thành Siêu Cường duy nhất. Các nước trên danh nghĩa còn là Cộng Sản nhưng thực tế đều trở thành Tư Bản Man Rợ trong chế độ Độc Tài Đảng Trị, cướp bóc, đầy đọa toàn dân. Nhưng rồi một tai họa khác lại xẩy ra cho Mỹ và Thế Giới, đó là Phong Trào Thánh Chiến Hồi Giáo Khủng Bố.

VĂN MINH TRUNG ĐÔNG

Khởi đầu nền Văn Minh Trung Đông phải kể đến Dân Tộc Ba Tư. Họ cũng như bất cứ dân tộc cổ xưa nào đều sống và tôn thờ Đa Thần. Mãi tới thời Zoroastre thành lập Hỏa Giáo thì tư tưởng Dân Tộc Ba Tư mới tiến thới nhận thực Độc Thần. Theo Zoroastre thì “Lửa là ánh sáng tượng trưng cho một vị Chúa Tể Vũ Trụ, ngự trị trên trời cao”. Nhờ niềm tin mãnh liệt của tôn giáo, biến thành lý tưởng chung của dân tộc, nước Ba Tư đã trở nên cường thịnh vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch. Họ mở ra Đế Quốc Ba Tư bao trùm khắp vùng Trung Đông, gây ảnh hưởng lớn cho khối người Ảrập. Dân Ảrập cũng thờ Đa Thần, nhưng tất cả các vị thần đó đều đặt dưới quyền cai quản của vị thần lớn ở La Mecque. Trong đền thờ Kaaba có đặt một tảng Vẫn Thạch từ trên trới rơi xuống. Mảnh Đá này được người Ả Rập hết sức tôn kinh, nên trong đời một người ít nhất họ phải đi hành hương ở La Mecque một lần. Đây là triết lý vận hành chính trị theo nguyên tắc Đa Nguyên Nhất Cực quy về La Mecque.

Sau thời Hỏa Giáo 13 thế kỷ, đến thế kỷ thứ 7 Tây Lịch, Tiên Tri Mohammed thành lập Hồi Giáo, ông đã tiếp xúc nhận ảnh hưởng từ Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo, để xây dựng niềm tin cho Đạo Hồi, về việc tôn thờ một vị thần tối cao duy nhất là Thánh Allah toàn năng tối thượng điều khiển Vũ Trụ và Con Người. Mohammed nhận mình là vị Tiên Tri lớn nhất do Thánh Allah gởi đến cho Thế Giới, nên tất cả phải nghe theo và tuân phục vị Tiên Tri duy nhất này. Hồi Giáo vận hành theo nguyên tăc Nhị Nguyên Nhất Cực quy về Thánh Chiến. Vừa là tín ngưỡng thần quyền cực đoan, vừa là thế quyền hiếu chiến. Ông tuyên bố “Thánh chiến với bất cư ai, bất cứ nước nào không theo Hồi Giáo”. Chính vì tổ chức cực đoan và hiếu chiến, nên chẳng bao lâu, người thân và chính con cháu ông đã chém giết nhau chia làm Lưỡng Cực Sunni và Shiite thâm thù cho đến ngày nay. Tuy nhiên tất cả đều tuân thủ triệt để giáo lý của Đạo Hồi và lời dậy của Mahommed, như: “Mỗi ngày phải cầu nguyện 5 lần, trước khi cầu nguyện phải tăm rửa, trong đời ít nhất phải đi lễ tại La Mecque một lần, cấm uống rượu va ăn thịt heo”.Năm 1096 Hồi Giáo mở cuộc Thánh Chiến xâm lăng u Châu, Thiên Chúa Giáo La Mã vận động các nước u Châu tiến hành cuộc Thập Tự Chinh. Đến năm 1720 Hồi Giáo mới bị đánh bật khỏi Tây u Châu. Đây là cuộc chiến kéo trên 6 thế kỷ, dài nhất trong lịch sử Nhân Loại.

Trong khi cuộc Thánh Chiến giữa Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo còn đang tiếp diễn thì vào cuối thế kỷ 13, Đế Quốc Ottoman được thành lập bởi Osman người lãnh đạo bộ lạc Oghuz Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1354 người Ottomans tung đoàn quân viễn chinh kiểm soát vùng Đông Nam u Châu, chinh phục vùng Balkans, tràn sang vùng Trung Á, làm chủ vùng này, rồi kéo xuống Ấn Độ, chiếm trọn miền Bắc Ấn. Khi xuống tới Trung Ấn thì các công trình văn hóa Phật Giáo bị tàn phá, và đại khối Phật Tử cũng bị tiêu diệt. Riêng Bà La Môn Giáo rất mạnh ở vùng Nam Ấn, nên đoàn quân viễn chính Hồi Giáo cũng dần dần mất sức, bị đẩy xuống tận các Quốc Đảo Đông Nam Á. Tới đây họ bị đồng hóa với ngươi bản xứ hiền hòa, nhờ thế mà bớt hiếu chiến hơn.

Suốt thế kỷ 16-17 triều đại Suleiman, đế Quốc Ottoman là đế quốc đa quốc gia, đa ngôn ngữ, nhưng đều theo Hồi Giáo. Họ kiểm soát khắp vùng Đông Nam Ấu Châu. Tây Á, Caucasus, Bắc Phi và Sừng Phi Châu. Họ đã tham dự vào cuộc Đệ Nhất Thế Chiến 1914-1918. Sau đó Đế Quốc Ottoman tan vỡ bởi sức mạnh của Anh, Pháp chèn ép. Thổ Nhĩ Kỳ thu về thành quốc gia thế tục. Từ đó các nước Thực Dân chia nhau vùng Trung Đông. Biên giới các nước bị chia cắt chồng chéo lên nhau giữa người theo Giáo Phái Shiite và Sunni, làm cho khối Hồi Giáo chia rẽ cùng cực. Chỉ đến khi Mỹ ủng hộ cho người Do Thái về quê cũ lập quốc giữa khối Ảrập Hồi Giáo vào năm 1947, mới nổ ra cuộc Khủng Bố của người Palestine chống người Do Thái. Cuộc khung bố này lan rộng dân ra tới các nước ủng hộ Do Thái, nhất là Hoa Kỳ, nước đỡ đầu cho Do Thái mọi mặt. Cuộc khủng bố này biến chuyển dưới nhiền hình thức, cuối cùng là ôm bom tự sát. Nó làm Hoa Kỳ hoảng vía, Thế Giới bàng hoàng khi nhóm Al Qaeda ngày 11/9/2001 cướp 4 chiếc máy bay dân dụng của hàng không Mỹ, 2 chiếc đâm vào tòa Tháp Đôi ở New Yock. 1 chiếc đâm vào Ngũ Giác Đài, l chiếc rơi ở vùng gần ngoại ô Hoa Thịnh Đốn. Lập tức Mỹ kêu gọi và phát động cao trào Quốc Tế Chống Khủng Bố Toàn Cầu.

Một cuộc chiến tranh do Mỹ thực hiện nhắm vào chính quyền Taliban và nhóm Khủng Bố al Qaeda ở Afghanistan được Thế Giới hưởng ứng, nên đã xóa được nhóm al Qaeda và lật đổ được chính quyền Taliban. Nhưng bắn giết nhau còn kéo dài. Một cuộc chiến tranh thứ hai ở Iraq, thì bị Pháp, Đức lại quay sang ủng hộ nhà độc tài Saddam Hussein. Còn những nhà chiến lược Mỹ của chính quyền Bush như Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, đã đồng hóa chế độ độc tài gia đình trị của Hussein với Quốc Gia và Quân Đội Iraq, nên khi Mỹ rút quân về nước thì nhóm binh sĩ Iraq của Hussein quy tụ lại thành lập nhóm Thánh Chiến Sunni, tự sưng là Đế Quốc Isis. Tạo ra một cuộc Khủng Bố khiếp đảm là chặt đầu những người da trăng mà chúng bắt được, rồi chiếu lên mạng phổ biến khắp nơi. Chúng giết bất cứ ai không theo Đạo Hồi và tin tưởng tuyệt đối vào chúng. Chúng dùng hệ thống thông tin mạng khích động những thanh niên Hồi Giáo ở các nước văn minh tiến hành những cuộc đơn độc Khủng Bố Tự Sát, đánh vào dân chúng ở bất cứ nơi đâu, tạo thành không khí lo sợ thường trực đối với thế giới văn minh. Nhất là làm sóng tỵ nạn chiến tranh của hàng triệu dân Hồi Giáo tràn vào Âu Châu. Mà họ vẫn là những người Hồi Giáo thuần thành quá khích, mang sẵn trong tin mối hận cũ, thù mới đối với những người da trắng theo Thiên Chúa Giáo. Mối nguy cho cả Thế Giới.

VĂN MINH TOÀN CẦU: Các nguồn Văn Hóa Dân Tôc, các nến Văn Minh Khu Vực, trong thời đại hiện nay, đang có khung hướng quy tụ dung hóa với nhau để làm phong phú thêm cho Văn Minh Toàn Cầu nhằm phù hợp với nhu cầu của Văn Hóa Tính Nhân Loại, luôn luôn yêu thích những gì là Đẹp Tốt Sáng Mới cho chính tâm thân mình và những sản phẩn, những công trình mình làm ra. Để thực hiện được Văn Hóa Tính nơi mỗi Người, điều cần và đủ là Con Người phải có Tự Do, phải Tự làm Chủ được mình trong mọi lãnh vực tình cảm, suy tư và sáng tạo. Tóm lại quyền Tự Do Tự Chủ Sáng Tạo là quyền tối thượng để Nhân Loại thể hiện Giá Trị Nhân Chủ Nhân Văn đích thực ở thời đại Toàn Cầu này.

Rất may cho nhân loại là hiện nay còn 3 tôn giáo lớn đang có ảnh hưởng sâu đậm trong tư tưởng và niềm tin của đa số Con Người, thì ít ra vẫn có 2 tôn giáo là Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo đang quyết tâm hướng dẫn Tín Hữu của mình phát triển Văn Hóa Tính từ trong tâm hồn, trí tuệ mình để thương yêu nhau, cùng làm đẹp tốt sáng mới cho chính mình và Vạn Hữu. Với Đạo Phật thì khẳng quyết: “Trong Tâm mỗi Người và chúng sinh đều có Phật Tính”. Còn Đạo Chúa thì dậy rằng: “Chúa ngự trong linh hồn mỗi Người thiện tâm”. Xem vậy dù 2 tôn giáo này có những giáo lý, giáo điều và niềm tin khác nhau, nhưng cùng chung cứu cánh là phụng sự Con Người, hướng dẫn Nhân Loại biết thương yêu quý trọng nhau, vì chính trong Tâm Thức hay Linh Hồn mình là nới Phật, Chúa hiện hữu. Chỉ riêng có Đạo Hồi là tuy có niềm tin vào Thần Quyền rất mạnh đến độ cực đoan, nhưng vào Thế Quyền thì hiếu chiến, hiếu sát, hiếu thắng nên tự làm khổ mình, khổ người, chưa có điều kiện và cơ hội để cho Văn Hóa Tính phát triển.

Hiện nay Hoa Kỳ là Quốc Gia Đa Chúng Tộc, Đa Tôn Giáo, Đa Văn Hóa, đại khối dân chúng sống hài hòa, phát triền khắp mặt, hầu như người của các Dân Tộc đều có mặt sinh sống trên đất Mỹ, đây có thể gọi được là Thế Giới thu nhỏ. đầy đủ điều kiện để trở thành Trung Tâm Văn Hóa Thế Giới, và là Nền Văn Minh Toàn Cầu. Những nhà lập quốc đều là nạn nhân của cuộc bách hại Tôn Giáo ở u Châu. Họ cũng đặt niềm tin nơi Thượng Đế, nhưng khi thành lập Quốc Gia Liên Bang Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, vào ngày 04 tháng 07 năm 1776. Họ không đặt Nhất Cực nơi Thần Quyền hoặc Thế Quyền, mà đặt Nhất Cực nơi Nhân Quyền. Từ Hiến Pháp, Luật Pháp, tổ chức Chính Quyền, vận hành Chính Trị nhất nhất đều nhằm bảo vệ Quyền Tự Do Cá Nhân. Bao gồm Nhân Quyền của toàn dân, Dân Quyền của Công Dân, quyền Tự Do Tư Hữu, quyền Tự Do Tư Tưởng, quyền Tự Do Tôn Giáo, quyền Tư Do Phát Biểu, quyền Tư Do Sáng Tạo, quyền Tự Do Lâp Hội, Lập Đảng…và quyền Tự Do Mưu Cầu Hạnh Phúc.

Hiến Pháp Hoa Kỳ xây dưng Tam Quyền Phân Lập: Lập Pháp – Hành Pháp – Tư Pháp. Ba quyền này vừa tương quan vừa ràng buộc nhau, nhằm bảo vệ Quyền Tự Do của Người Dân, Nền Chính Trị Dân Chủ Hoa Kỳ vận hành theo chiều Đa Nguyên Nhất Cực là vậy. Vì Nhất Cực đặt ở nơi Toàn Dân, nên nước Mỹ tìm hết cách giới hạn Thế Quyền không cho phép Chính Quyền trở thành độc tài. Về mặt Luật Pháp thì Quốc Hội làm Luật. Tổng Thống ban hành, Tòa Án phán xử. Để Bảo Đảm chắc chắn những quyền Tự Do thiết yếu của Người Dân không bị vi phạm, bởi ngay Luật Pháp Mỹ. Tu Chính Án Số I ra đời vào năm 1791.Với những điều khoản nghiêm minh: “Quốc Hội không được làm bất cứ luật nào, không tôn trọng sự hình thành của Tôn Giáo, hay cấm đoán sự tự do hoạt động của nó, hay giảm quyền tự do ngôn luận, hay tự do báo chí, hay quyền hội họp một cach ôn hòa, và kiến nghị chính phủ để điều chỉnh các than oán của Dân Chúng”. Ngoài Tam Quyền Phận Lập, ở đây nước Mỹ đã thực hiện Đệ Tứ Quyền đó là Quyền Tự Do Ngôn Luận nhằm soi rọi ánh sáng vào những sinh hoạt của chính quyền và các hành hoạt của những tập thế xã hội, kinh tế, chính trị…của đất nước. Nhưng Luât Pháp Mỹ tuyệt đối cấm truyền thông không được vi phạm vào quyền riêng tư của Con Người.

Cung cách Vận Hành hệ thống chính trị của nước Mỹ dựa trên khuynh hướng Lưỡng Nguyên. Công dân tự kết hợp thành 2 đảng lớn: Dân Chủ và Cộng Hòa, nhưng các đảng nhỏ cũng vẫn được tư do thành lập và xin phiếu bầu của Công Dân, như 2 đảng lớn, để trở thành giới chức cầm quyền như: Tổng Thống, Nghị Sĩ, Dân Biểu ở các cấp Liên Bang, Tiểu Bang, và Địa Phương. Tuy không phải là Luật mà là Lệ, dân chúng Mỹ có thói quen là quy tụ vào 2 đảng Dân Chủ vơi khuynh hướng cấp tiên, và Cộng Hòa với khuynh hướng bảo thủ. Nên từ cấp Quận Hạt, trở lên tới Tiểu Bang, Liên Bang, 2 đảng đều đem người ra tranh cử. Thế cho nên 2 đảng Dân Chủ, Cộng Hòa đã thay nhau xin phiếu Quốc Dân để lên cầm quyền ở mọi cấp.

Riêng ở Thị Xã là cơ sở Đáy Tầng Dân Chủ của nền Cộng Hòa Bình Đẳng Phổ Cập thì các cuộc bầu cử tại đây là do những Công Dân đủ điều kiện luật định tự ứng cử, chứ không qua sự giới thiệu của các chính đảng. Đây chính là Nhất Cực, nền tảng kiên cố bền vững lâu dài của chế độ Dân Chủ Tự Do Hoa Kỳ. Măc cho trên măt tầng chính trị Quốc Gia, Lưỡng Nguyên, tức là Lương Đảng, hay có thêm Lực Lượng Thứ Ba gồm các nhà tài phiệt hiện diện trong Lưỡng Đảng, hoặc có thế lực các nhà Tài Phiệt Quốc Tế chen vào, thì họ vẫn phải dựa vào nước Mỹ, mới tìm được sức mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự, khoa hoc… để thâu được lợi nhuận lớn trong Nền Kinh Tế Thị Trường Quốc Tế. Nên trước sau gì họ cũng phải tìm được sự đồng thuận để có chính sách lưỡng đảng chung, dù nhất thời bị lâm vào tình trạng đảng tranh làm trì trệ sinh hoạt Quốc Nội hay Quốc Tế, thì dù có chuyển biến sáng sủa, hay u ám cách gì, cũng không làm mất bản chất, đặc tính và sự vươn lên của nền Tư Do Dân Chủ Mỹ được. Đây chính là chế độ tiêu biểu cho Thế Giới Thời Đại.

Để được vậy, ngoài các cơ chế Dân Chủ Đáy Tầng, và cách vận hành chính trị trên mặt tầng, đặt căn bản trên Luật Pháp Nghiêm Minh, với nền Kinh Tế Tư Bản Thị Trường, để vững vàng hướng dẫn Thế Giới tiến lên Toàn Cầu Hóa, nước Mỹ đặc biệt đề cao ngành Giáo Dục Mở, phổ cập toàn dân. Không những thế, nước Mỹ còn mở rộng vong tay đón Chất Xám từ khắp muôn phương đổ vào, họ biết lựa chọn những điều tinh túy nhất của cả Nhân Loại để làm giầu cho nền Giáo Dục Đất Nước. Chinh vì vậy, Nền Giáo Dục Mỹ trở thành một nền giáo dục toàn diện cao độ nhất hiện nay trên thến giới. Cả về Kiến Thức, Khoa Học, Kỹ Thuật, và hầu hết các lãnh vực phục vụ Nhân Sinh, từ những điểm chi ly nhỏ nhặt nhất, cho tới những điểm vĩ đại vượt ra khỏi tầm hiểu biết của truyền thống. Đây là phước lớn, và cũng là họa to của Người Mỹ.

Phước lớn, vì những nhà Đại Trí Thức Mỹ đang ra sức vượt thắng các trở ngại truyền thống, để khám phá những bí mật về Vũ Trụ, nhằm đưa Con Người tới gần với Sự Thật về sự có mặt của Con Người và Vạn Hữu trong Vũ Trụ bao la này. Họa to, với những Người đặt trọn nềm tin vào các giá trị Tôn Giáo Truyền Thống. Họ bị đặt vào tâm trạng Hoài Nghi, mất hướng vươn lên. Tư Tưởng bị hoang mang, Suy Tư bế tăc, Tâm Cảm u trầm, dẫn tới tình trạng buông trôi, hoặc trầm cảm. Chính vì thế, mà nhu cầu Hướng Dẫn Tâm Linh cho mỗi Người là điều tối quan trọng đối với Nền Giáo Dục Hoa Kỳ.

Chiều hướng phát triển và thăng hoá Tâm Linh của con người là động lực chính để nâng cao giá trị tinh thần của Vũ Trụ. Đó là Thiên Tính tự nhiên của Vạn Hữu. Đó củng là Văn Hoá Tính của nhân loại. Và đó củng là Phật Tính trong mỗi con người hướng đến toàn giác để hội nhập với nguồn động lực siêu thể, siêu thức, vô biên, vô hạn của Vũ Trụ.

Share this post