Văn & Thơ Hoàng Hải Thủy – Nguyễn Ngọc Chính

Văn & Thơ                      Hoàng Hải Thủy – Nguyễn Ngọc Chính

Đề tựa của bài viết này chia làm hai phần Văn và Thơ của Hoàng Hải Thủy, a.k.a. Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn… Ít có văn thi sĩ nào lại lấy lắm tên đến như vậy.

Thế nhưng, đó cũng là điều dễ hiểu vì trong suốt cuộc đời viết lách, Hoàng Hải Thủy “lưu lạc” sang nhiều tờ báo với những bút hiệu khác nhau. Khi theo gia đình vào Nam năm 1951, ông làm phóng viên của tờ Ánh Sáng Sài Gòn. Cuối năm 1952  ông được giải nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn của Nhật báo Tiếng Dội với truyện ngắn “Người Con Gái Áo Xanh.”

Hoàng Hải Thủy đi lính 2 năm, đến 1954 ông làm phóng viên báo Sài Gòn Mới. Trong 2 1956-1957 làm nhân viên USOM (United States Operation Mission – tiền thân của Cơ Quan Viện Trợ Hoa Kỳ, USAID), ông phụ trách tờ Thế Giới Tự Do. Đây là một tạp chí kèm nhiều hình ảnh với kỹ thuật in ấn rất tinh xảo của Mỹ.

Cuối năm 1957 ông lại trở về báo Sài Gòn Mới và sau đó viết truyện nhiều nhất trên báo Ngôn Luận. Ngoài hàng loạt truyện ngắn, truyện dài, Hoàng Hải Thủy còn nổi bật với những truyện phóng tác từ tiểu thuyết nước ngoài.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2011 ông cũng xác định một cách “nửa đùa, nửa thật” khi được hỏi chắc là ông phải rất giỏi ngoại ngữ nên mới chuyên về phóng tác:

“Tôi mà “giỏi ngoại ngữ” thì trên cõi đời này còn có ai “dzốt ngoại ngữ?” Tôi tiếng Tây Bồi, tiếng Anh Bồi, tiếng Mỹ cũng bồi.”

Ấy thế mà ông lại là người phóng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới. Phóng tác đầu tiên của ông là cuốn tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp (Series Noir), “Après moi, le déluge”, năm 1956, với tựa đề tiếng Việt “Nổ Như Tạc Đạn”. Phóng tác này được đăng nhiều kỳ, loại tiểu thuyết mà báo chí ngày xưa gọi là “feuilleton”, ở trang trong của nhật báo Ngôn Luận.

                                                                                       “Nổ Như Tạc Đạn” được đăng nhiều kỳ trên nhật báo Ngôn Luận

Bối cảnh của “Nổ Như Tạc Đạn” là Sài Gòn, vào cuối thập niên 50, chứ không phải là bên Tây như trong nguyên tác. Hoàng Hải Thủy đã đưa người đọc vào thế giới trẻ “thác loạn”, sống bất cần đời. Qua cái nhìn của Hùng, một thanh niên con nhà gia giáo, khá giả, được ăn học tử tế… Một thế giới khác lạ diễn ra trước mắt anh:

“Mỗi một phút trôi qua, Hùng lại càng ngạc nhiên. Chàng như lạc vào một thế giới khác, hoặc lạc vào một hành tinh khác. Chỉ chưa đầy năm phút đồng hồ, Hùng đã được biết rằng người ta có thể sống ung dung mà không có nhà cửa nhất định, không có nghề nghiệp và hành lý chỉ có mỗi một cái bàn chải đánh răng, người ta có thể đi ăn cắp những vật người ta không cần dùng, và người ta có thể kiêu hãnh về cái nghề đĩ đực và làm cái nghề đó một cách tận tâm. Hùng nhìn Duy và Kính như người nhìn hai con vật rất lạ”.

 Tiểu thuyết phóng tác đầu tay “Nổ Như Tạc Đạn” của Hoàng Hải Thủy

Tuy nhiên, tác phẩm nổi tiếng nhất của Hoàng Hải Thủy là cuốn tiểu thuyết phóng tác “Kiều Giang”. Ông lấy tên cô con gái cưng, bé Kiều Giang, lúc đó mới được 6 tháng để đặt tên cho tác phẩm này. Kiều Giang được phóng tác từ tác phẩm gốc “Jane Eyre” của nhà văn nữ Charlotte Bronté sáng tác từ thế kỷ thứ 18.

Đây là loại truyện tự thuật của cô bé Jane Eyre mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được người cậu ruột mang về nuôi. Cậu chết, Jane phải ở với người mợ vốn tính cay nghiệt là bà Sarah Reed. Jane đã sống thời thơ ấu cực nhục, bị chủ nhà và gia nhân ngược đãi, hắt hủi, là đối tượng trêu chọc của những đứa con hư của bà Sarah Reed. Trong gia đình ấy, Jane không được phép đọc sách, chơi đùa, lúc nào cũng có thể bị đánh đập, bị tống giam vào buồng tối, bỏ mặc cho đói và khát.

Truyện phóng tác Jane Eyre của Hoàng Hải Thủy lấy bối cảnh ở Huế suốt thời thơ ấu khốn khó của Kiều Giang, năm 9 tuổi bị tống vào một trường nội trú. Mười năm sau, cô tìm được một chân dạy trẻ tại Trang trại Thùy Dương trên Đà Lạt. Đây là trang trại “ma quái” của ông kỹ sư Tường, tại đây Kiều Giang đã cứu ông thoát khỏi một vụ hỏa hoạn “bí mật” của một người có tiếng cười “vừa bí hiểm, vừa kinh dị”!

Tình yêu đầu đời của Kiều Giang đã đến một cách bất ngờ và nhanh chóng. Cô yêu ông kỹ sư Tường và họ quyết định cử hành hôn lễ. Đám cưới không phù dâu, phù rể, cũng không có nhà trai, nhà gái. Khi hôn lễ đang được cử hành tại nhà thờ thì có hai người xuất hiện và tố cáo ông kỹ sư phạm tội… “đa thê”! Cuối cùng, chú rể đã nhìn nhận một cách thẳng trước bàn thờ Thiên Chúa:

“Vâng, tôi muốn trở thành một kẻ “đa thê”… một danh từ xấu xa trong công giáo. Số mệnh và cuộc đời tàn nhẫn đã không cho tôi trở thành một kẻ đa thê. Ông luật sư và ông anh vợ đã giúp tôi không thể trở thành một kẻ đời đời dối Chúa. Đúng là tôi đã có vợ, người đàn bà ấy hiện ở trại Thùy Dương.“Chắc cũng có người nghe đồn rằng trang trại có một bà điên và cứ tưởng bà ấy là cô em gái của tôi… Người đó là vợ tôi, vì bị điên nên tôi phải dấu kín một chỗ. Tôi đã cưới người đó 10 năm trước ở Cao Miên, nhưng xin quý vị hãy hiểu cho tôi, bà ấy bị điên. Tôi xin mời cha sở theo tôi về trang trại để chứng kiến sự thật!”(hết trích)

Cả thế giới sụp đổ trước mắt Kiều Giang, cô tìm cách đi thật xa trang trại Thùy Dương, nơi mang nhiều kỷ niệm của mối tình đầu. Định mệnh run rủi khiến cô được cứu vớt bởi một mục sư Tin Lành, vị mục sư này đang sửa soạn đi truyền giáo ở nước ngoài và rủ cô đi theo. Kiều Giang từ chối vì không thể nào quên được mối tình đầu đời. Cô quyết đi tìm Kỹ Sư Tường.

Người kỹ sư ngày nào giờ mắt đã không thấy đường sau vụ người vợ điên phóng hỏa trang trại. Kiều Giang quyết tâm ở lại để chăm sóc người yêu. Truyện Kiều Giang có một “happy ending”: họ sống bên nhau và cặp mắt của Tường sau một thời gian điều trị đã có thể thấy lại cô giáo Kiều Giang ngày nào.

                                                                             “Kiều Giang” phóng tác từ Jane Eyere của Charlotte Bronté

Người đọc câu chuyện cảm động của  Kiều Giang thời VNCH dĩ nhiên là nhiều vô số kể. Sau biến cố 1975, những ai muốn tìm đọc Kiều Giang chắc chắn phải “trầy vi tróc vẩy” vì đại nạn đốt sách “diệt tàn dư Mỹ-Ngụy”. Rất tình cờ, tôi gặp một “rao vặt” sau đây sau biến cố 1975:

“Truyện Kiều Giang trong tình trạng khá tốt, bán tại số nhà xxx đường Cách Mạng Tháng 8, Phường  8, Tân Bình. Liên lạc ông Hào, chủ tiệm sách, Tel. xxx, giá bán Kiều Giang là 1.200.000VNĐ”.

Nói tới nhà văn Hoàng Hải Thủy là ai cũng nghĩ ngay tới tác phẩm Kiều Giang. Điều này đã cho ông cảm hứng sáng tác bài thơ làm trong Xà lim Khu B, trại giam Phan Đăng Lưu năm 1978. Hồi đó ông là một trong “những tên biệt kích cầm bút” còn sót lại ở miền Nam. Bài thơ “Kiều Giang” có những câu đọc muốn ứa nước mắt:

“Người bạn tù hỏi qua song cửa Phải anh là Hoàng Hải Thủy Anh viết truyện Kiều Giang?“Kiều Giang …!Ôi tên con, tên ngọc, tên vàng Làm bố vỡ tim và hồn nức nở Khi đặt tên con đâu ngờ có thuở Nghe tên con giữa chốn lao tù Những đêm dài ngục tối âm u Bố thấy mắt con sáng bừng rực rỡ “Bố yêu con trong từng hơi thở Trong trái tim hồng, trong giòng máu đỏ Kiều Giang ơi, tiếng kêu thương nhớ Con có run da thịt đêm nay? Bố cho con trọn máu xương này”

Phải đến thời điêu linh Hoàng Hải Thủy mới bắt đầu làm thơ. Để ghi, để nhớ, thời gian cả triệu người Sài Gòn sống nhờ những thùng đồ do thân nhân ở nước ngoài gửi về cứu trợ, những năm từ 1978.. dài dài đến những năm 1990. Ông viết: “Bài ca đồ ngoại”:

“Chẳng phải đồ lô, vẫn của nhà Đồ zin em gửi tận Uy-Dza Vải hoa, soie Pháp, vui lòng mẹ Hộp quẹt, quần jeans, mát dạ cha Camay, Colgate mồm thơm lại Maalox,  Lyneo mắt sáng ra Còn non, còn nước, còn đồ ngoại Còn đồ em thơm cứ như hoa ..Một lọ thuốc, hai lọ thuốc, ba lọ thuốc …Anh thấy những ngón tay em ngà ngọc, ve vuốt trên ánh thủy tinhEm nói với anh bằng tiếng Becozim ngọt lịm, hiền hòa Em hôn anh bằng những nụ hôn Alka – SeltzerAnh hít mùi da thịt em thơm trong những mét soieAnh uống từng giọt nước mắt, nếm từng giọt mồ hôi em trong lòng những cây bút bic …Cho anh khóc bằng mắt em … những mối tình Campovit …Cho anh mơ thấy em về trong mù mịt đêm nay …Em ơi … Lyncocin … Terneurine … Eucalyptine … Coramine …Anh yêu em … Levi’s … Jeans … Em có hay ?Em ôm tình anh nặng một vòng tayPhấn son cho má em hồng, Colgate cho răng em trắng.Và những CamayCho da thịt em thơm như ngày em mới yêu lần thứ nhất.Em biết anh hôn em vì em ngây ngất Khi em mặc chặt chiếc slip vừa tròn Em quằn quại đêm nay vì trên ngực anh hônKhi em lịm hồn trong chiếc soutien lụa mịnAnh ơi … Em yêu anh… Bufferin …Em nhớ anh … Bevitine … Maalox … Neo Codeine …!Muốn tắm mát thì lên ngọn con sông đàoMuốn ăn sim chín thì vào rừng xanhĐôi tay anh vít đôi cànhQuả chín anh hái, quả xanh anh vồNăm sáu năm nay anh ăn ở Thành HồAnh ra bưu điện lãnh đồ em cho Đồ em vừa nặng, vừa to Anh đã con mắt, anh no cái mồm Một cây mười mấy nghìn đồng Được tin em mới lấy chồng ở bên Cái áo nylon ai  khéo mặc thì bền Lấy ai thì lấy đừng quên gửi đồ Nhớ ai ai có nhớ cùng Ai cho chi được một thùng thì hay Có gửi thì gửi thuốc tây Đừng gửi thuốc lá ở đây anh buồn! Đèn Sàigòn ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn mờ Công anh năm đợi bảy chờ Thùng đồ em hứa bao giờ em cho ? Có con mà gả chồng gần Nửa đêm đốt đuốc mang phần cho cha Có con mà gả chồng xa Tháng tháng nó gửi đô la tì tì Ai về em gửi bức thơHỏi người yêu cũ bây giờ ở mô ?Người em yêu ở Thành Hồ Còn thương thì liệu gửi đồ cho nhau Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Bây giờ em đến Iu – Za Gửi thùng cho nặng mới là đạo con Chợ Bến Thành dời đổi Người sao khỏi hợp tan Vợ chồng là nghĩa đá vàng Gửi thùng cho lớn là chàng yêu em Rủ nhau xuống biển mò cua Đem về nấu quả mơ chua trên rừng Đôi ta chua ngọt đã từng Nay em sang Mỹ xin đừng quên nhau Mẹ ơi đừng đánh con hung Để con sang Mỹ gửi thùng mẹ ăn . Mẹ ơi… đừng đánh con đau Để con ra biển đón tầu mẹ chui.


blank

                                                                                                                     “Thơ Hoàng Hải Thủy” (1995)Thực ra, những câu thơ ông viết không trau chuốt nhưng lại nói lên bề sâu của những nỗi lòng thầm kín. Hoàng Hải Thủy rất thương vợ. Ông tâm sự, một đêm, “nằm phơi rốn” (sic) trong Lầu Bát Giác Chí Hoà, ông làm bài thơ: “Anh chỉ sống để chờ Em đến”.

“Như Trái Đất chỉ quay để chờ nắng lênAnh chỉ sống để chờ Em đến.Giòng Thời Gian muôn kiếp lênh đênhTa muôn kiếp vẫn yêu, vẫn mến.Trên vai Anh, mái tóc hương huyềnEm đã ngả từ ngày có biển.Như mưa nguồn trở lại Đào NguyênEm yêu ơi, như thuyền về bếnAnh chỉ sống để chờ Em đến.Như từ núi nước suôi về biểnNhư trên hoa về những giọt sươngNhư Eva trở lại Thiên ĐườngAnh chỉ sống để chờ Em đến.Thưở tinh khôi đất trời vừa hiệnChim mới ca, suối mới đưa hươngTrong thanh không vừa có thái duơngEm đã đến. Và Em sẽ đến.Khi trái đất chỉ quay để chờ nắng lênKhi loài người  còn mãi tình duyênThuyền Thời Gian ta mãi lênh đênhAnh chỉ sống để chờ Em đến.Khi trái đất ngừng quayNgày chẳng còn lênĐêm thôi xuống, gió không còn thổiKhi loài người ngừng cuộc tình duyênThuyền Thời Gian ta hết lênh đênhTrong mông mênh chỉ có bình yênAnh vẫn sống để chờ Em đến.

blank

                                                                        Bài thơ “Anh chỉ sống để chờ em đến”, Nguyễn Tuấn phổ nhạc

Ông còn viết hẳn một bài 36 câu cho người vợ thân yêu, Alice:

Anh không biết ngày xưa em trẻKhi em yêu em đợi, em chờCó bao giờ em buồn như thểSáng nay em trong cửa mong thơ ?Niềm hy vọng trong em chợt héNgười phát thư xe đạp đi quaChưa bao giờ thấy em buồn thếKhi nghiêng vai, em trở vào nhà.Em yêu ơi … Tim anh như xéChưa thương em đến thế bao giờ .Anh lặng biết em không cần kểNhững xót xa, ly tán, đợi chờHồn em nặng sầu non, muộn bểNhững đau thương ray rứt không bờTừ cơm áo rã rời sinh kếĐến oan khiên tù tội không ngờĐau chồng con chia từng giọt lệThương hôm mai biết đến bao giờĐời u tối như chiều đông xếMôi em thâm nên mắt em mờNên em buồn não nùng như thểSáng nay em trong cửa đợi chờ .Sáu năm dài dập dồn dâu bểĐời sống ta cơ cực Thành HồAnh lặng biết sao em buồn thếSao em gầy sao tóc em khô!Trên mái tóc thu về đã trễTrên đôi môi thoáng bóng hư vôTrong ánh mắt não nùng xiết kểTrên đôi vai xuân đã mơ hồAnh thấy cả một trời dâu bểAnh chưa đau đến thế bao giờAnh lặng hiểu sao em buồn thếSao em mong người phát thư vôNiềm mơ ước trong em thật béEm chờ mong chỉ một thùng đồ.

blank

                                                                                   Hoàng Hải Thủy phu nhân, Alice

                                                                                                  ***

Tác phẩm của Hoàng Hải Thủy:–       Đầu Người Trong Hang Máu (Truyện dài, 1954)-       Xác Ma Giết Người (Truyện dài, 1954)-       Chiếc Hôn Tử Biệt (A Kiss Before Dying – Phóng tác, 1956)-       Vũ Nữ Sài Gòn (Phóng sự, 1958)-       Kiều Giang (Jane Eyre – Phóng tác, 1963)-       Nổ Như Tạc Đạn (Après Moi, Le Déluge, Phóng tác,1964)-       Tìm Em Nơi Thiên Đường (My Cousin Rachel – Phóng tác, 1965)-       Đầm Giao Chỉ (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự, 1967)-       Yêu Tiền (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự, 196?)-       Vụ Án Họ Trinh (The Bellamy Trial – Phóng tác, 1967)-       Tình Đầu (The Apple Tree – Phóng tác, 1967)-       Đêm Về Sáng (Truyện dài, 1968)-       Hồng Loan Hồng Ngọc (The Pink Panther – Tiểu thuyết gián điệp, 1968)-       Tiếng Ca Cá Sấu (Never Find Sanctuary – Phóng tác, 1968)-       Yêu Lắm Cắn Đau (Truyện dài, 1968)-       Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights – Phóng tác, 1969)-       Bạn Và Vợ  (Truyện dài, 1969)-       Môi Thắm Nửa Đời (Truyện dài, 1969)-       Tình Nhân Trẻ (Le Jeune Amant – Phỏng dịch, 1969)-       Yêu Mệt (Le Repos du Guerrier – Phóng tác, 1969)-       Yêu Nhau Bằng Mồm (Truyện dài, 1970)-       Người Vợ Mất Tích (Phóng tác, 1970)-       Người Yêu, Người Giết (La Seconde Souffle – Phỏng dịch, 1970)-       Trong Vòng Tay Du Đãng (No Orchid For Miss Blandish – Phóng tác, 1970)-       Vợ Chồng Son (Phóng tác, 1970)-       Vòng Tay Yêu Tinh (Phóng tác, 1970)-       Bây Giờ Tháng Mấy (Hồi ký, 1970)-       Bẫy Yêu (007 From Russia with love – Tiểu thuyết gián điệp, 1970)-       Định Mệnh Đã An Bài (Truyện dài, 1970)-       Hồn Ma Đa Tình (Truyện kinh dị Hitchcock, 1970)-       Người Thiếu Nữ Một Đêm (Tập truyện kinh dị, 1970)-       Đêm Vĩnh Biệt (Phóng tác, 1970)-       Trong Vòng Tay Du Đãng (No Orchid For Miss Blandish – Phỏng dịch, 1970)-       Lưới Tình (Truyện dài, 1971)-       Truyện Tình (Truyện dài, 1971)-       Chứng Nhân Của Thời Đại (Tập truyện, 1972)-       Giữa Những Người Đã Chết (D’Entre Les Morts – Phóng tác, 1972)-       Giửa Hai Dòng Nước (Tập truyện, 1973)-       Như Chuyện Thần Tiên (The Scorpion Reef – Phóng tác, 1973)-       Tình Mộng (Vacances Romaines – Phóng tác, 1973)-       Người Vợ Ngoại Tình (Madame Bovary – Phóng tác, 1973)-       Ngoài Cửa Thiên Đường (Maldonné – Phóng tác, 1974)-       Không Tìm Thấy Mộ (007 Never Find Sanctuary – Tiểu thuyết gián điệp, 1974)-       Điệp Vụ Hỏa Cầu (007 Diamond Are Forever – Tiểu thuyết gián điệp, 1974)-       Đường Bay Định Mệnh (007 – Tiểu thuyết gián điệp, 1974)-       Cửa Vào Địa Ngục (007 – Tiểu thuyết gián điệp, 1975)-       Tiếng Cười Trong Đêm Tối (Laughter In The Dark – Phóng tác, 1975)-       Trò Chơi Khủng Bố (The Game of Terror – Tiểu thuyết gián điệp, 1975)-       Đi Tìm Người Yêu (The Citadel – Phóng tác, 197?)-       Công Tác Đại K (007 – Tiểu thuyết gián điệp, 197?)-       Phục Vụ Nữ Hoàng (007 – Tiểu thuyết gián điệp, 197?)-       Thầy Nô (007 Doctor No – Tiểu thuyết gián điệp, 197?)-       Máu Đen Vàng Đỏ (007 Live And Let Die – Tiểu thuyết gián điệp, 197?)-       Tay Sắt Tay Vàng (007 Goldfinger – Tiểu thuyết gián điệp, 197?)-       Gã Thâm (The Deep – Phóng tác, 197?)-       Bóng Người Áo Trắng (The Lady In White – Phóng tác, 197?)-       Đen Hơn Bóng Tối (Piège Pour Cendrillion – Phóng tác, 197?)-       Trở Về Tội Ác (The Dark Arena – Phỏng dịch, 197?)-       Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef – Phóng tác, 197?)-       Đa Tình Đa Sát ( Phóng tác, 197?)-       Tây Đực Tây Cái (Truyện dài, 197?)-       Gái Trọ (Phóng tác, 197?)-       Nửa Kiếp Giang Hồ (La Scoumoune – Phóng tác, 197?)-       Không Tìm Thấy Mộ (Hoàng Kiều Giang – Truyện dài, 1990)-       Trên Đỉnh Tình Yêu (Hoàng Kiều Giang – Truyện dài, 1990)-       Cuối Đường Tuyệt Vọng (Hoàng Kiều Giang – Truyện dài, 1991)-       Tại Ngục Vịnh Kiều (Tạp luận, 1996)-       Tiếng Kêu Của Máu (The Red Dragon – Phóng tác, 1996)-       Mang Xuống Tuyền Đài (The Chamber – Phóng tác, 1998)-       Dữ Hơn Rắn Độc (Deadlier Than The Male – Phóng tác, 2000)-       Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (Tạp luận, 2000)-       Mùa Hạ Hai Mươi (Truyện dài, 2000)-       Đất Hồ Ngàn Năm (Tạp bút, 2001)-       Sống & Chết Ở Gàigòn (Ký sự, 2002)-       Thiếu Phụ Chiếc Xe Khẩu Súng (La Dame Dans L’auto – Phóng tác, 2002)-       Viết Ở Rừng Phong (Tạp bút, 2004)-       Sài Gòn Vang Bóng (Tạp bút, 2011)-       Công Ty Rửa Tiền (The Firm – Phóng tác, 200?)-       Báo Cáo Bồ Nông (The Pelican Brief – Phóng tác, 200?)

                                                                 Nguyễn Ngọc Chính

Share this post