Về Cuốn Đoản Văn Cô Hai Phi Tuyết của Lê Hoàng Hải – Trần Xuân Ninh

Về Cuốn Đoản Văn Cô Hai Phi Tuyết của Lê Hoàng Hải –  Trần Xuân Ninh

Đã từ khá lâu tôi không đọc truyện ngắn hay dài, và ngay cả xem phim. Lý do đơn giản chỉ vì tôi đã thấy đủ, biết đủ, những chông chênh, thành bại, đắng cay của cuộc đời, với con người. Nói cho đúng là chính tôi đã trải nghiệm.

Và Nguyễn Gia Thiều đã tóm tắt bằng vài câu trong Cung Oán ngâm khúc. Biết từ thời còn ở trung học phổ thông Chu Văn An, cách nay hơn nửa thế kỷ. Nhưng lúc đó chỉ mới hiểu là tác giả nói hơi quá:

Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,
Lớp cùng thông như rục buồng gan,
Bệnh trần đòi đoạn tâm toan,
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
Ai bày trò bãi bể nương dâu,
Trắng răng đến thuở bạc đầu,
Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.
Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu,
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu,
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.
Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi.
Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.
Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc,
Thú ca lâu dế khóc canh dài,
Đất bằng bỗng nổi chông gai,
Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương.
Mồi phú quí nhử làng xa mã,
Bả vinh hoa lừa gã công khanh,
Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.

Cho nên tôi không thấy gì lạ hay là bị lôi cuốn bởi mọi tình tiết thất tình hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục nữa.

Tôi đọc cuốn Cô Hai Phi Tuyết vì được giới thiệu. Không bởi những nhà văn nhà báo tên tuổi thường có thói quen – hay truyền thống(?) “mặc áo thụng vái nhau”. Hoặc bởi những nhà xuất bản có thông lệ là đề cao “tới bến” các tác phẩm phát hành, vì nhu cầu thương mại. Mà bởi một “người thường” mộc mạc chân thiết. Rằng tác phẩm là của một thanh niên trẻ đa năng, làm việc say mê không nghỉ. Và chỉ cho tôi xem một số “tác phẩm” của chàng thanh niên: Danh sách một số bài đã viết, tranh Bát Nhã Tâm Kinh, viết thể chữ Tiểu Triện; tượng Đức Mẹ Mân Côi, trên một khúc cây chưa xong vì phải đi làm việc khác, vài hình cầm bút lông vẽ tranh…

Lê Hoàng Hải vẽ tranh nhánh hoa.

Lê Hoàng Hải vẽ tranh nhánh hoa.

Lướt qua những tác phẩm này, ấn tượng sâu đậm để lại trong tôi là một thanh niên tuổi trạc 30 có niềm tin Thiên Chúa thấy được trên nét mặt tượng đức Mẹ Mân côi, nhưng dư phóng khoáng để mà có thể hiểu sâu sắc Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh đến độ có hứng ngồi viết cả bài thành tranh theo lối tiểu triện. Sự hiểu biết này cũng phần nào được thấy trong đoản văn Chẳng phụ Như Lai, kể chuyện nhà sư trẻ Huyền Thuần

Lê Hoàng Hải viết Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh thành tranh theo lối tiểu triện.

Lê Hoàng Hải viết Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh thành tranh theo lối tiểu triện.

Đó là mẫu người tôi vẫn mường tượng trong đầu là cần thiết để xây dựng một xã hội hài hòa yên bình cho bây giờ và những ngày sắp tới.

Chuyện đầu tiên Cô Hai Phi Tuyết được dùng làm tên cho cả tập đoản văn gồm năm chuyện khác nhau mà bốn là bối cảnh miền Tây, còn một là ở Đông Kinh. Đọc xong, tôi có cảm tưởng như vừa xem một kịch bản gồm những tình huống khác nhau được sắp sếp hoàn chỉnh để làm một cuốn phim lịch sử, xã hội của miền Tây, vùng Rạch Cái Thượng. Cái không khí đặc thù miền Tây này được thấy ngay từ mấy câu đầu, qua những tác phong tư thái ngôn từ và tên của những nhân vật xuất hiện. Phải thêm rằng nếu mà tôi đã bị tràn ngập bởi cái không khí miền Tây như thế cũng là vì văn từ của Lê Hoàng Hải khiến tôi nhớ lại lối viết kề cà dễ dàng như kể chuyện của những cây bút thời thập niên 1950 trên các báo miền Nam như Hồ biểu Chánh, Lê Xuyên… Với một điều đặc biệt là những so sánh mới lạ, không biết đúng sai, nhưng tạo thích thú và chú ý. Ngay từ trang đầu. Như tiếng cô Hai Phi Tuyết “trong ngần như nước sông Cái mùa sau tết”. Và “Nhà ông Tám Thuận giàu, bị công an dòm ngó như ruồi xanh bâu tảng thịt chợ trưa”.

Hay là “Tám Thuận đâm lo nghĩ, thức trắng nhiều đêm, thuốc Xuân Lộc vấn điếu bằng ngón tay cái, pha trà quạu như nước màu”. “Bà Tám cũng sợ, nhưng ìm lìm như con rắn cái ấp trứng, nghiến răng mà chịu”. Và

“Sư Thuần đắp y theo kiểu Nam Tông. Dưới ánh đèn dầu, một bên vai trần rắn chắc của sư như mâm tiệc thịnh soạn của mấy con muỗi đói. Sư ngồi yên không nhúc nhích, cố dụng công đánh đuổi ý niệm về cơn ngứa” (trong đoản văn cuối Chẳng phụ Như Lai trong cuốn Cô Hai Phi Tuyết). Xin nói thêm rằng chi tiết này là một mô tả thực của tình trạng mà người ngồi thiền đều có trải qua.

Đặc điểm khác của tập đoản văn Cô Hai Phi Tuyết là những sự kiện được dàn trải ra và cất đi một cách đột ngột, khá tự nhiên và tạo hấp dẫn. Người đọc tinh tế có thể nhìn ra vô số những lý thú khác. Cũng lý thú như khi nhìn bức tượng đức Mẹ Mân Côi mặt rẩt hiền dịu chưa xong trong nhánh cây.

Tượng khắc Đức Mẹ Mân Côi do Lê Hoàng Hải thực hiện.

Tượng khắc Đức Mẹ Mân Côi do Lê Hoàng Hải thực hiện.

.Bác Sĩ Trần Xuân Ninh

Ngày 13 tháng 11/2019

Share this post